Tiến sĩ Phạm Đạo Phú

 

- Tiến sĩ Phạm Đạo Phú – 


Một Ngôi Sao Trong Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú

TRẦN MỸ GIỐNG

   1- Phạm Đạo Phú (có sách chép nhầm là Nguyễn Phú Đạo, Nguyễn Đạo Phú) sinh năm Quang Thuận 4(1463), mất năm Nguyên Hoà 7(1539), quê ở làng Hoàng Xá, huyện Đại An (nay là thôn Phạm Xá, xã Yên Nhân, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định).

Phạm Đạo Phú là một nhà khoa bảng Nam Định nổi tiếng về văn học. Ông là một ngôi sao trong Tao Đàn nhị thập bát tú thời Lê Thánh Tông. Trong tiềm thức dân gian, tên tuổi ông thường gắn liền với tên tuổi người em họ của ông là Hoàng giáp Đại tướng đổng quân Phạm Bảo. Hai anh em ông liên tiếp cùng đỗ đại khoa, cùng làm quan một triều, cùng được tôn làm phúc thần và được thờ chung trong một ngôi đền.

Phạm Bảo (có sách chép là Phạm Nguyễn Báu) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông. Sau khi đỗ đại khoa, ông được bổ làm Phó đô ngự sử ở Ngự sử đài, giúp cho Đô ngự sử chuyên lo việc can gián nhà vua và thanh tra các quan lại trong cả nước. Do ông rất giỏi võ nghệ nên vua Lê Thánh Tông chuyển ông sang ngạch vũ giai. Lúc đầu ông giữ chức Chưởng quản Nội thị, sau được thăng đến Đại tướng Đổng quân. Ông từng được cử cầm quân đi chiêu dụ Ai Lao, đánh dẹp giặc Ngọc Lâu nổi loạn ở miền Hưng Hoá. Năm Hồng Đức 23(1492) trại của Đa La Lý họp người Man Cam Cát nổi loạn, triều đình cử ông cùng Đại tướng Trần Tường mang quân đi đánh dẹp. Ông có công bắt sống Đa La Lý, chiêu an được các Man động nên vua Lê phong cho ông là Võ huân tướng quân Tả hiệu điểm, giữ chức Trấn thủ Nghệ An. Năm Cảnh Thống 4(1501) đời Lê Hiến Tông, ông hộ giá vua thân chinh đi đánh đồn Bổn Man, giữa đường thì mất. Vua thương xót ông là người văn võ song toàn, có nhiều công lao hiển hách nên truy phong cho ông hàm Thiếu uý và ban tên thuỵ là Vũ Thành. Linh cữu của ông được đưa về an táng tại làng Hưng Thịnh, huyện Đại An. Lăng mộ ông hiện nay vẫn còn ở xứ Mả Người, đường Đồng Tân, thôn Hưng Thịnh (thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Năm Quang Hưng 18(1595) đời Lê Thế Tông, ông được phong làm phúc thần và được lập đền thờ tại làng Hưng Thịnh.

Người anh họ của Phạm Bảo là Phạm Đạo Phú cũng nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21(1490) đời Lê Thánh Tông. Năm Hồng Đức 26(1495) ông được giao chức Hàn lâm viện Hiệu kiểm (tức Hàn lâm viện Kiểm thảo sau này), chuyên lo việc kiểm thảo các văn thư ở Viện Hàn lâm. Sau ông lại được thăng đến chức Hình bộ Tả thị lang, một chức quan cao cấp ở bộ Hình, chỉ đứng sau Thượng thư và Tham tri, mang hàm Chánh tam phẩm, giúp Thượng thư trông coi việc pháp luật, duyệt lại những tội nặng án ngờ, tra xét kỹ những tù giam ngục cấm. Ông làm quan cần mẫn trải bảy đời vua: Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, Uy Mục Đế, Tương Dực Đế, Chiêu Tông, Cung Hoàng. Cùng với Phạm Bảo, ông được người đời đánh giá là “Anh em cùng nhau nối tiếp trước sau, trọn vẹn tiếng tốt ở đương thời”(Văn bia ở miếu thờ hai ông đỗ đại khoa ở làng Hưng Thịnh do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị soạn).

Năm Đinh Hợi niên hiệu Thống Nguyên 6(1527) Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Phạm Đạo Phú một lòng trung thành với nhà Lê đã treo ấn từ quan về quê dạy học. Nhà Mạc nhiều lần triệu ra làm quan nhưng ông kiên quyết từ chối. Thực chất những năm về ở ẩn, Phạm Đạo Phú ngầm chiêu tập nghĩa binh dưới hình thức mở trường dạy học để mưu nổi dậy chống nhà Mạc. Việc không thành, ông cho con cháu đổi họ Phạm thành họ Ngô để đề phòng nhà Mạc trả thù. Con cháu ông mang họ Ngô nhưng vẫn trông coi từ đường họ Phạm. Gần đây con cháu ông đã được chính quyền sở tại cho phép đổi họ Ngô trở lại họ Phạm.

Ngày 2 tháng 8 năm Nguyên Hoà 7(1539) Phạm Đạo Phú mất. Lăng mộ ông hiện nay ở gò Con Ngựa, xứ đồng Mả Cả, đường Trung Đồng, thôn Hưng Thịnh, xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Sau khi ông mất, vua Lê Thế Tông xếp ông vào hàng các trung thần của triều Lê, truy tặng ông hàm Tham tri và ban tên thuỵ là Trung ý Trung đẳng thần, sức cho dân bản xã lập đền thờ làm phúc thần. Năm Tự Đức 7(1854) dân làng Hưng Thịnh lấy số hoa lợi “Cấp tứ” (20 mẫu ruộng do triều Lê Trung Hưng cấp cho dân làng làm hương hoả thờ cúng Phạm Đạo Phú gọi là ruộng “Cấp tứ”) và tiền khao vọng hơn 3000 quan xây dồn đền thờ ông với đền thờ Phạm Bảo. Bài vị thờ ông ghi là: “An dân trấn quốc hiển sĩ binh thần tuấn lương đại vương”.

Hiện nay đền thờ hai anh em Phạm Đạo Phú ở thôn Hưng Thịnh, xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng được thờ chung với Thuỷ thần. Trải các triều đại phong kiến, các vua chúa đời sau đều có sắc phong để nhân dân hai làng Hưng Thịnh và Phạm Xá thờ cúng hai anh em ông.

2 - Về quê quán của hai anh em Phạm Đạo Phú, các tài liệu viết không thống nhất. Một số tài liệu chép quê các ông ở làng Hưng Thịnh, huyện Đại An. Một số tài liệu lại viết quê các ông là làng Hoàng Xá, huyện Đại An. Theo “Hương chỉ” của làng Hưng Thịnh, anh em Phạm Đạo Phú là những người có công sáng lập làng Hưng Thịnh. Người đầu tiên khai phá vùng đất Hưng Thịnh là ông Nguyễn Đại Lang, thứ hai là anh em Phạm Đạo Phú và Phạm Bảo. Hai anh em ông đã cùng bà con khai khẩn đất hoang, tạo lập thành làng. Lúc đầu đặt tên là làng Hưng Phú. Dần dần làng Hưng Phú ngày thêm trù phú và đông đúc mới đổi lại là làng Hưng Thịnh. Phạm Đạo Phú sau khi từ quan về dạy học đã sống đến hết đời ở làng Hưng Thịnh. Có lẽ vì thế mà có tài liệu chép quê ông là làng Hưng Thịnh chăng. Sau khi anh em ông mất, thi hài hai ông đều được an táng ở làng, đều được làng Hưng Thịnh thờ làm Phúc thần. Trong đền thờ hai ông có câu đối:

Sơn nhạc giáng thần cố lý tân từ linh tích tại

Văn chương minh thế thạch bi kim bảng thịnh danh truyền.
(Núi lớn giáng thần, dấu thiêng thiêng ở làng xưa đền mới
Văn chương sáng sủa, tiếng tốt đẹp truyền bia đá bảng vàng).

Gần ngôi đền thờ Phạm Đạo Phú có tấm bia đá do Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị soạn nói về hành trạng của hai anh em ông, có câu:

                 “Sinh vi danh thần, tử vi phúc thần, nhi miếu ủ ấp cổ lai hãn hỹ” (Sống là danh thần, khi mất làm phúc thần mà đền miếu ở quê nhà, từ xưa đến nay quả là hiếm vậy).

Như vậy, làng Hưng Thịnh là nơi hai anh em Phạm Đạo Phú có công tạo lập, còn quê quán của các ông chính là làng Phạm Xá. Theo gia phả họ Phạm ở làng Phạm Xá (nay thuộc xã Yên Nhân, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định) thì ông bà, cha mẹ Phạm Đạo Phú là những người đầu tiên đến khai phá vùng ven biển Đại An. Lúc đầu dân cư còn thưa thớt, làng còn nghèo nàn, những người khai phá vùng đất này thành lập trại cô bần. Sau làng đông đúc và trù phú mới đặt tên làng là Hoàng Xá. Tương truyền, sau khi anh em Phạm Đạo Phú đỗ đại khoa, làng Hoàng Xá được đổi thành làng Phạm Xá để ghi nhớ sự vinh hiển của con cháu họ Phạm. Từ đường họ Phạm có bức hoành phi đề là “Văn minh tổ” (Tổ khai sáng văn minh). Cũng ở làng Phạm Xá hiện còn có ngôi đình thờ anh em Phạm Đạo Phú, gọi là đình ông Nghè. Trong đình có một số bia ghi công đức của những người đóng góp tu sửa đình và hơn vài chục câu đối bằng chữ Hán khắc vào cột đá của các bậc đại khoa đời sau đề tặng. Câu đối của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, người làng Chân Mỹ, huyện Đại An (nay thuộc làng Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định) viết là :

Tích Lê triều Hồng Đức thái bình thiên, Đinh Mùi, Canh Tuất lưỡng khoa phật kinh liên kế;
Kim Nam quận Đại An văn vật địa, Phạm Xá, Hưng Thịnh nhị xã thần miếu tương vương. 

(Xưa Hồng Đức triều Lê, trời thanh bình, Đinh Mùi, Canh Tuất hai khoa liền nhau đỗ đạt.
Nay quận Đại An nước Nam, đất văn vật, Phạm Xá, Hưng Thịnh hai xã cùng thờ miếu thần).

Trước hiên đình có câu đối của Hoàng giáp La Ngạn Đỗ Huy Liêu (người làng La Ngạn, huyện Đại An nay là thôn La Ngạn, xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Đinh) như sau:

Hồng Đức đương thiên huynh đệ bảng
Nha thành thử địa cổ kim danh. 

(Anh em đề bảng thời Hồng Đức ấy,
Muôn thuở lừng danh đất Nha Thành này).

Nha Thành còn có tên là cửa Nha ác. Vùng đất Hưng Thịnh, Phạm Xá xưa kia liên tiếp nhau chính là cửa biển Đại ác (sau đối là Đại An). Ngày nay hai làng này ngăn cách nhau bởi cửa sông Độc Bộ và thuộc hai huyện khác nhau: Hưng Thịnh thuộc xã Hoàng Nam của huyện Nghĩa Hưng, Phạm Xá thuộc xã Yên Nhân của huyện Ý Yên.

- Hai anh em họ Phạm đều xuất thân là những vị đại khoa nhưng Phạm Bảo nổi tiếng về võ công hiển hách, Phạm Đạo Phú lại nổi tiếng có tài văn học. Ngay từ nhỏ Phạm Đạo Phú đã thông minh, học giỏi, có tiếng là làm từ phú hay. Năm Hồng Đức 21(1490) đỗ Tiến sĩ thì ngay năm sau (1491) ông được vua Lê Thánh Tông cho cùng về thăm Lam Kinh với một số quần thần khác. Trong chuyến đi này vua tôi cùng xướng hoạ thi ca, chép lại thành tập gọi là “Văn minh cổ xuý” . Phạm Đạo Phú có 6 bài thơ phụng hoạ trong tập này. Năm Hồng Đức 26(1495) vua Lê Thánh Tông thành lập Tao Đàn hội. Phạm Đạo Phú được chọn làm Hội viên chính thức. Nhân hai năm Quý Sửu (1493) và Giáp Dần (1494) được mùa liền, vua Lê Thánh Tông làm 9 bài thơ gọi làQuỳnh Uyển cửu ca, chọn 28 văn thần ứng với 28 ngôi sao trên trời phong làm Tao Đàn nhị thập bát tú, có nhiệm vụ phụng bình, phụng canh, phụng hoạ các bài thơ của vua. Hai mươi tám ngôi sao đó là: Giác, Khang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Chương, Dực, Chẩn. Phạm Đạo Phú được xếp ở vị trí thứ 27 (tức là sao Dực) trong số 28 ngôi sao trên đàn văn chương này.

Mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (từ năm 1495 đến năm 1497) Tao Đàn hội vẫn được coi là một thi xã cung đình đầu tiên, có quy mô khá lớn ở nước ta. Tao Đàn hội do vua Lê Thánh Tông làm Nguyên suý. Các hội viên được chọn lọc trong hàng ngũ quan lại cao cấp, có học vị từ Đồng Tiến sĩ đến Trạng nguyên. Tôn chỉ mục đích của hội được nhà vua nói rõ trong bài Tựa và trong chùm thơ Quỳnh Uyển cửu ca. Tôn chỉ mang ý nghĩa chính trị và giáo dục sâu sắc, góp phần bảo vệ hoà bình và xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh. Hai vị Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận được phong là Phó nguyên suý. Ngoài 28 hội viên chính thức của hội, vua Lê Thánh Tông còn phong cho Trạng nguyên Lương Thế Vinh và Tiến sĩ Sái Thuận chức Tao Đàn sái phu, có nhiệm vụ “quét dọn” (biên tập) các sáng tác của hội. Cơ cấu của hội mang tính chất khoa học nhiều mặt: sáng tác, bình văn, thẩm văn, nhuận sắc văn. Tác phẩm chủ yếu của hội là Quỳnh Uyển cửu ca (Chín khúc ca trong vườn Quỳnh) gồm hơn hai trăm bài thơ xướng hoạ. Chín bài thơ xướng của Lê Thánh Tông có đầu đề là:

- Sửu, Dần nhị tuế, bách cốc phong đăng hiệp vu ca vịnh ký kỳ thuỵ (Hai năm Sửu, Dần mùa màng tươi tốt, làm thơ phổ vào lời ca để ghi lại điềm lành ấy). Viết tắt là: Bách cốc phong đăng.

- Quân đạo (Đạo làm vua).
- Thần tiết (Tiết tháo bề tôi).
- Dư tĩnh toạ thâm cung hà tư cổ tích, quân minh thần lương, dữ đương kim cơ nghiệp chi thịnh, ngẫu thành nhất luật (Ta ngồi trong chính điện, nghĩ tới các bậc vua sáng tôi hiền ngày xưa và cơ nghiệp thịnh trị ngày nay, ngẫu nhiên làm một bài thơ). Viết tắt là : Quân minh thần lương.
- Dư độc thư chi bạ, dao tưởng anh hiền, tự dư thi hoài triển chuyển, ngẫu thành nhất luật (Ta trong lúc đọc sách rỗi, nghĩ tới các bậc tài giỏi, ý thơ trăn trở, bỗng thành một bài thơ). Viết tắt là Dao tưởng anh hiền.
- Kỳ khí (Khí tiết kỳ diệu).
- Thư thảo hý thành (Đùa thành bài thơ về viết thảo).
- Văn nhân (Văn nhân).
- Mai hoa (Hoa mai).

Tiến sĩ Phạm Đạo Phú làm đủ cả 9 bài thơ phụng hoạ các bài thơ xướng của vua Lê Thánh Tông. Phạm Đạo Phú là người duy nhất ở vùng đất Nam Định được mời làm hội viên chính thức của hội thơ nổi tiếng này. Nam Định còn có Trạng nguyên Lương Thế Vinh được phong làm Tao Đàn sái phu, nhưng không phải là hội viên chính thức của hội. Việc được Lê Thánh Tông, vị vua nổi tiếng tài đức chọn làm hội viên chính thức của Tao Đàn hội đã chứng tỏ Phạm Đạo Phú là người có tài có đức, đặc biệt về văn thơ.

Năm Cảnh Thống 1(1498) dựng bia Quang Thục thái hoàng thái hậu ở Lam Kinh, khắc bài thơ khóc bà của vua Lê Hiến Tông và thơ của 36 vị quần thần khác. Phạm Đạo Phú có một bài thơ được chọn khắc trong bia này. Bài thơ của ông tình cảm rất thống thiết, có câu:

Xuất thổ quần sinh mộng ủ hú
Bất thăng cảm đức lộ triêm cân.

(Cõi đất muôn loài ơn ấp ủ
Xót thương mến đức lệ trào khăn).

Sự nghiệp thơ văn của Phạm Đạo Phú còn lại không nhiều. Con cháu họ Phạm ở Phạm Xá còn lưu giữ được một tập thơ chiêu hồn bằng chữ Nôm chép lại vào năm 1913, đề là: “Do tướng công Phạm Đạo Phú soạn, Khiếu Năng Tĩnh viết lời bạt”. Phần thơ xướng hoạ của ông còn 15 bài chép trong các sách Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xuý, Lê triều thi tập, Cúc Đường thi tập, Quỳnh Uyển cửu ca, Toàn Việt thi lục.

Thơ Phạm Đạo Phú lời lẽ giản dị, khiêm nhường, rất ít dùng điển cố. Hai vị Phó nguyên suý của Tao Đàn hội là Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận đã từng bình thơ ông là: “Phá, kết ý hảo. Dư diệc bình thường” (Câu mở đầu và câu kết có ý hay, ngoài ra bình thường).

Trong khuôn khổ của các bài thơ hoạ nguyên vận, các sáng tác của Phạm Đạo Phú cũng như của những Tao Đàn hội viên khác đều có hạn chế là khuôn sáo, cầu kỳ, tư tưởng tình cảm bị gò bó. Dẫu sao thơ ông vẫn mang những yếu tố tích cực nhất định. Đó là sự thể hiện tấm lòng yêu nước thiết tha, tự hào về truyền thống vinh quang của ông cha, và nhất là sự quan tâm đến nhân dân, mong muốn cho dân giàu nước mạnh. Trong bài “Phụng hoạ ngự chế: Bách cốc phong đăng” ông đưa ra tiền đề:

Tuế lũ kim nhương thượng thuỵ đẳng
(Đã bao năm được mùa lúa vàng).

ở câu kết của bài này ông viết :

Tứ dã nghiêu dân tư hạo hạo
(Khắp chốn thôn dã dân lành vui vẻ hớn hở).

Bài thơ đã diễn đạt rất đúng tâm trạng vui vẻ của người nông dân khi được mùa, thể hiện sự cảm thông của tác giả đối với nhân dân lao động. Không chỉ cảm thông với người nông dân mà ông còn ước mong cho dân có được đời sống yên ổn, thanh bình:

Cửu tự cửu ca quân thánh hoá
Khang cù kích nhưỡng lạc Nghiêu niên.

(Bài Phụng hoạ ngự chế : Quân đạo )

(Chín khúc ca vui là sự giáo hoá của bậc thánh nhân,
Dân lành vui vẻ trong cảnh thái bình của vua Nghiêu).

Triều đại vua Lê Thánh Tông là thời đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Thời kỳ này mọi mặt kinh tế, văn hoá, giáo dục… đều phát triển và có nhiều thành tựu đáng kể. Phạm Đạo Phú đã ca lên:

Xuân hồi thảo mộc tân tiên nghiên,

 …

Đa hạnh tư thần phùng thánh đại,
Nguy nguy hiếu trị nhật trung thiên.

(Bài “Phụng hoạ ngự chế : Bái yết Sơn lăng cảm thành”

(Xuân về cây cỏ thảy đều tươi,

Vua sáng tôi hiền may mắn gặp,
Xây nền hiếu trị vững muôn đời).

                 Vua sáng, tôi hiền và nền hiếu trị là ước mơ mong muốn về một xã hội tốt đẹp của ông cũng như của nhân dân ta thời đó. Cho nên ông lấy làm sung sướng được là tôi hiền của vị vua sáng Lê Thánh Tông.

                Giữa những bài thơ xướng hoạ thù tạc, ca ngợi vua, ca tụng chế độ phong kiến, mang tính chất khuôn sáo, gò bó, cầu kỳ… lại có được những ý thơ, những câu thơ, những bài thơ quan tâm đến đời sống nhân dân, thể hiện lòng yêu đất nước, yêu dân như của Phạm Đạo Phú là điều rất đáng quý.

               Mặc dù thơ Phạm Đạo Phú chỉ còn rất ít, nhưng chỉ với những tác phẩm còn lại đó cũng đủ để ông xứng đáng được ghi nhận là một tác gia của dòng văn học bác học Việt Nam cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16 mà lịch sử văn học nước ta không thể không nhắc đến ông.

                                                                             Nguồn Newvietart.com

Bảng Tra Các Nhà Khoa Bảng Nam Định

Bảng Tra Các Nhà Khoa Bảng Nam Định

                                            (Xếp theo vần chữ cái họ tên nhân vật)

TRẦN MỸ GIỐNG

     1 – Bùi Tân ( Cuối TK 15 – Đầu TK 16 )

    Quê xã Kim Bảng, huyện Thiên Bản nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5(1502) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến chức Hình bộ Hữu thị lang. 

      2 – Bùi Văn Phan  ( 1818 –  ?  )

           Có sách chép là Bùi Duy Phiên, Bùi Quang Miện.

    Quê xã Thân Thượng, huyện Đại An nay thuộc huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Mão 1843, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị 4(1844), làm quanđến chức Tri phủ Thuận Thành.   

      3 – Dương Bật Trạc ( 1684 –  ?  )

   Tự là Xích Thuỷ, hiệu là Thuần Chất.

   Quê xã Cổ Lễ, huyện Nam Chân nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

    Ông nguyên họ Đào đổi thành họ Dương, là cháu xa đời của Trạng nguyên Đào Sư Tích.

Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Sửu niên hiệu Vĩnh Thịnh 11(1715) đời Lê Dụ Tông, được bổ Tri phủ Thiên Trường, thăng Hiến sát xứ Lạng Sơn. Ông có tác phẩm  Giang sơn tri ngộ thi tập. 

       4 – Dương Xân  (TK 16)

      Quê xã Cao Hương, huyện Thiên Bản nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

        Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi niên hiệu Đại Chính 6(1535) đời Mạc Đăng Doanh, làm quan đến chức Hình bộ Hữu thị lang, tước Diên Hà bá.

       5 – Đào Minh Dương  (TK16)

     Có sách chép là Đào Dương Bằng.

     Quê xã Hộ Xá, huyện Giao Thuỷ nay thuộc địa phận huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. (Hộ Xá xưa đã lở xuống sông do sông Hồng chuyển dòng).

     Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3(1550) đời Mạc Phúc Nguyên, làm quan đến Thừa chính sứ.  

      6 – Đào Sư  Tích 

(Canh Dần 1350 – 4/ 9 Bính Tý 1396)

    Quê xã Cổ Lễ, huyện Tây Chân nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

    Ông là con Tiến sĩ Đào Toàn Bân.

    Ông đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2(1374) đời Trần Duệ Tông. Từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ đầu. Sau khi đỗ Trạng nguyên, ông được bổ chức Lễ bộ Thượng thư, thăng Nhập nội Hành khiển kiêm Hữu ty Lang trung. Năm 1383 ông viết bài đề tựa sách Bảo Hoà điện dư bút của Trần Nghệ Tông. Năm 1393 do đồng tình với Đoàn Xuân Lôi phê phán sách Minh đạo của Hồ Quý Ly nên ông bị giáng làm Trung thư Thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự. Ông cáo quan về quê làm thuốc chữa bệnh và dạy học.

      Đào Sư Tích được người đời đánh giá là một trong những người khơi nguồn thể phú thời Trần với bài Cảnh tinh phú nổi tiếng. Một số tác phẩm của ông ngày nay được biết: Bài tựa sách Bảo Hoà điện dư bút, Bài văn sách thi Đình (chép trong Lịch triều Đình đối sách văn), Mộng ký (chép trong Công dư tiệp ký), Sách lược phục hưng Đại Việt (8 tập, đã mất).

      7 – Đào Toàn Bân  ( TK14 )

     Có sách chép là Đào Toàn Mân, Đào Tuyền Phú,  Đào Kim Bản, Lê Toàn Môn…

    Quê gốc xã Song Khê, huyện Yên Dụng nay thuộc xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Định cư xã Cổ Lễ, huyện Tây Chân nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

    Ông là cha Trạng nguyên Đào Sư Tích.

    Ông đỗ Hương cống khoa Giáp Tý 1324, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ khoa Nhâm Dần 1362 đời Trần Dụ Tông, được bổ chức Lễ bộ Thượng thư. Năm 1381 ông được lấy làm Tri thẩm hình viện sự.    

      8 – Đặng Đức Địch 

      (20/8 Bính Tý 1816 –  4/8 Bính Thân 1896)

     Tự là Cửu Tuân, hiệu là Côi Phong.

     Quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

     Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Thân 1848, đỗ Phó bảng khoa Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức 2(1849). Sau khi đỗ Phó bảng, ông về quê. Năm ông 38 tuổi mới được bổ chức Tri huyện Hàm Yên. Ông làm quan trải các chức Tri phủ An Bình, Đốc học Hải Dương, Giám sát ngự sử, sung Tập Hiền viện Tu soạn, Kinh diên khởi cư trú. Năm 1873 bị bệnh, ông xin về quê an dưỡng và nuôi mẹ già. Năm 1874 triều đình triệu ông ra làm Đốc học Nam Định, Thị giảng học sĩ, sung Sử quán Toản tu, Hồng lô Tự khanh. Năm 1883 ông được giao chức thự Tuần phủ Quảng Ngãi, năm 1884 thăng Lễ bộ Tham tri, sung Sử quán Toản tu, lĩnh Lễ bộ Thượng thư. Năm Đồng Khánh (1886) được sung Kinh diên giảng quan, làm việc được ít ngày, ông xin về trí sĩ và mở trường dạy học. Tác phẩm  của ông có Thanh cư vịnh tập,  Hán tự tự tu thư.

     9 – Đặng Hữu Dương  ( 1857 –  ?  )

     Quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. 

     Ông là cháu nội Cử nhân Đặng Văn Bính, anh Cử nhân Đặng Hữu Hộ.

     Ông đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão 1879, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1(1889). Khoa ất Dậu 1885 ông đã thi Hội trúng cách, nhưng vì kinh thành thất thủ nên chưa kịp truyền lô. Khoa Kỷ Sửu ông lại thi và đỗ Tiến sĩ. Ông làm quan án sát Hà Nội. Sau bị đau mắt, ông xin về nghỉ. Tác phẩm của ông có Nông gia tự liệu (tập sách thuốc chữ Nôm hơn 6000 câu thơ lục bát).

   10 – Đặng Kim Toán  (1814 – 1881)

         Có sách chép là Đặng Toán.

     Quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

     Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Mùi 1847, đỗ Phó bảng ân khoa Mậu Thân niên hiệu Tự Đức 1(1848), được bổ Hàn lâm viện Kiểm thảo, Tri phủ Tĩnh Gia, thăng án sát Bắc Ninh, Thị giảng học sĩ. Năm Tự Đức 20(1867) ông làm Tuần phủ Hộ lý Lạng Bình. Năm 1870 thành Lạng Sơn bị vây hãm, ông bị cách chức, đi hiệu lực. Sau ông được khôi phục hàm Hồng lô Tự khanh, lĩnh Bố chánh Cao Bằng. Năm Tự Đức 27(1874) ông làm Tuần phủ Ninh Bình, rồiđược thăng Tổng đốc An Tĩnh nhưng chưa kịp nhậm chức thì mất, thọ 68 tuổi.

     Ông có công chiêu tập dân lưu tán khai hoang vùng ven biển Nam Định, lập tổng Lạc Thiện thuộc huyện Giao Thuỷ. Tác phẩm của ông có Ninh Bình lâm hành vịnh tập.

    11 – Đặng Ngọc Cầu  (1825 –  1869)

         Còn gọi là Đặng Ngọc Phác.

     Quê xã Đặng Xá, huyện Thượng Nguyên nay là thôn Đặng Xá, xã Mỹ Hưng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

     Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Mùi 1847, đỗ Phó bảng ân khoa Mậu Thân niên hiệu Tự Đức 1(1848), làm quan Bố chánh Tuyên Quang. Sau bị cách chức, ông phải đi hiệu lực ở quân thứ Thái Nguyên rồi tử trận, được tặng “Tử sự” (chết vì việc nước). 

   12 – Đặng Phi Hiển 

( 9/9 Quý Mão 1603 – 21/3 Mậu Ngọ 1678 )

     Có tài liệu chép ông sinh 1567, mất 1650 thọ 84 tuổi.

    Quê xã Thuỵ Trung, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Ngọc Thỏ, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

     Năm 25 tuổi (có sách chép năm 62 tuổi) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10(1628)đời Lê Thần Tông. Năm 1631 ông được giao chức Hiến sát sứ Tuyên Quang, rồi Trấn thủ Thanh Hoa. Ông có công dẹp phỉ, được phong tước Vệ Thuỵ hầu. Sau ông được về kinh làm Đông các Đại học sĩ. Tác phẩm của ông có Nam du tập,  Bắc sơn hành ký.

    13 – Đặng Xuân Bảng  ( 1828 – 1910 )

     Tự là Hy Long, hiệu là Thiện Đình, Văn Phủ.

     Quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

     Ông là anh Cử nhân Đặng Ngọc Toản, cha Đặng Xuân Viện, ông nội Trường Chinh.

     Ông đỗ Tú tài hai khoa 1846 và 1848, đỗ Cử nhân khoa Canh Tuất 1850, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Tự Đức 9(1856). Sau khi đỗ Cử nhân ông đã ra làm Giáo thụ phủ Ninh Giang. Năm 1857 ông được sung vào Nội các tham gia chỉnh lý bộ Nhân sự kim giám. Năm 1859 ông giữ chức quyền Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hoá), năm 1860 làm Tri phủ Yên Bình (Tuyên Quang). Năm 1861 ông về Huế làm Giám sát ngự sử. Năm 1864 ông làm án sát sứ Quảng Yên, cùng Trương Quốc Dụng dẹp giặc Khách và thổ phỉ. Năm 1867 ông làm Bố chánh Thanh Hoá, năm 1868 đổi Bố chánh Tuyên Quang, cùng Nguyễn Bá Nghi dẹp bọn Tàu Ô phá rối tỉnh lỵ. Năm 1869 ông lại đổi làm Bố chánh Thanh Hoá, Bố chánh Hà Nội, rồi Bố chánh Sơn Tây. Năm 1872 ông làm Tuần phủ Hải Dương, đánh dẹp quân Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh. Cuối năm 1873 thành Hải Dương lọt vào tay quân Pháp, ông bị gọi về kinh chờ xử tội. Năm 1875 ông mộ dân khai hoang vùng Yên Mao (huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây). Năm 1876 ông theo Hoàng Kế Viêm mở đồn điền vùng Hưng Hoá. Năm 1878 triều đình triệu về kinh để làm quan nhưng ông từ chối, xin về phụng dưỡng mẹ. Năm 1886 triều đình cử ông làm Đốc học Nam Định. Năm 1888 vua Đồng Khánh triệu ông về kinh trọng dụng nhưng ông viện cớ tuổi cao xin về hưu trí.

      Ông có công mộ dân khai hoang lập ra ấp Tả Hành (xã Văn Lâm, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Từ khi nghỉ hưu ông mở trường dạy học, học trò đông tới hàng nghìn, có nhiều người đỗ đạt. Ông chuyên tâm nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn học, đạo đức… và có nhiều tác phẩm giá trị. Sĩ phu đương thời tôn ông là bậc học nhiều biết rộng. Sau khi mất, ông được truy phục nguyên hàm Tuần phủ. Làng Tả Hành thờ ông làm Thành hoàng làng. Tác phẩm của ông có: Bắc sử thông giám tập lãm tiện độc sử,  Cổ kim thiện ác tính, Cổ nhân ngôn hành lục,  Cư gia huấn giới tắc, Diễn huấn tục quốc âm,  Giao Thuỷ phong thổ vịnh, Huấn tục ca, Huấn tử quốc âm ca, Khâm định tập vận trích yếu, Kinh truyện toát yếu, Nam phương danh vật bị khảo, Nam sử tiện lãm, Nhị Độ Mai diễn âm, Như Tuyên thi tập, Sử học bị khảo, Thánh tổ hạnh thục diễn âm ca,  Thánh tổ thực lục, Thiện Đình Khiêm Trai văn tập,  Thiện Đình thi,  Thông giám tập lãm tiện độc, Tiên nghiêm Hội, Đình thí văn, Tuyên Quang tỉnh phú, Việt sử cương mục tiết yếu…

     14- Đinh Thao Ngọc

(Cuối TK15 – Đầu TK16)

      Quê xã Hải Lộ, huyện Tây Chân nay thuộc xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh 4(1508) đời Lê Uy Mục, làm quan đến chức Giám sát ngự sử.

     15 – Đinh trung thuần  (1463 – ? )

      Quê xã Phùng Xá, huyện ý Yên nay thuộc xã Yên Khánh, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      25 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quanđến chức Thượng thư. Ông vốn không ham giàu sang, tính cương trực nên xin về vui thú điền viên. Tác phẩm của ông còn một bài thơ lưu truyền trong dân gian.

    16 – Đỗ Dương Thanh  (1878 – 1946)

      Quê xã Đại An (Thái Đường), huyện Thượng Nguyên nay là thôn Đại An, xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Đỗ Cử nhân khoa Canh tý (1900). 24 tuổi đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 13(1901), làm quan đến chức án sát. Về trí sĩ. Mất tại quê. Tác phẩm  của ông có Thế gian nghịch cảnh ký.

    17 – Đỗ Huy Liêu  (1844 – 1891)

     Tự là Tỉnh Ông (có sách chép là Ông Tích), hiệu là Tân Xuyên (có sách chép là Đông La).

    Quê xã La Ngạn, huyện Đại An nay là thôn La Ngạn, xã YênĐồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Ông là con Phó bảng Đỗ Huy Uyển, cháu nội Cử nhân Đỗ Huy Cảnh.

    Ông đỗ Giải nguyên Cử nhân khoa Đinh Mão 1867, đỗ Đình nguyên Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Mão niên hiệu Tự Đức 32(1879).

    Trước khi thi Hội ông làm Huấn đạo Yên Mô, hàm Điển tịch. Khi vào thi Đình, bài đối sách của ông mạch lạc, được châu phê là “Quả có thực học, những kẻ dẫm theo vết mòn không thể làm được”.  Ông được bổ Tri phủ Đoan Hùng, rồi Lâm Thao, hàm Tập hiền viện Trước tác. Năm Kiến Phúc 1(1884) ông được thăng hàm Hồng lô Tự thiếu khanh, giữ chức Biện lý bộ Hộ, Tham biện Nội các sự vụ. Sau khi quân Pháp chiếm Bắc Kỳ, ông cáo quan về quê, cùng Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, Nguyễn Đức Huy mộ quân khởi nghĩa nhưng việc không thành. Ông bị Pháp bắt giam hai năm. Bọn thực dân Pháp dụ dỗ, mua chuộc, cử ông làm Bố chánh Bắc Ninh nhưng ông kiên quyết từ chối. Ông sống trong tâm trạng đau buồn trước cảnh nước mất. Sau khi mẹ ông qua đời, ông cũng mất theo. (Có thuyết nói ông tự vẫn bằng thuốc độc).

     Một số tác phẩm của ông hiện còn là Điện thí chế sách, Đông La thi tập (trong bộ La Ngạn Đỗ đại gia thi tập), Đông La văn tập, La Ngạn biện lý xã (Soạn chung với Đỗ Huy Uyển), La Ngạn Đỗ đại gia phú tập, Tân Xuyên văn tập, Tỉnh Ông thi tập…

   18 – Đỗ Huy Uyển  (1816 – 1882)

    Tự là Viên Khuê, hiệu là Tân Giang.

    Quê xã La Ngạn, huyện Đại An nay là thôn La Ngạn, xã YênĐồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Ông là con Cử nhân Đỗ Huy Cảnh, cha Hoàng giáp Đỗ Huy Liêu.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý 1840, đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị 1(1841). Khoa này ông thi Hội được 12 điểm, đáng đỗ Tiến sĩ, nhưng vì bài Kim văn có một câu viết khiếm nhã nên bị giáng xuống Phó bảng.

    Sau khi đỗ Phó bảng, ông được bổ Hàn lâm viện Kiểm thảo. Năm Tự Đức 1(1848) ông được sung vào Kinh diên, đi giữ chức Tri phủ Bình Giang, lại về kinh làm Giám sát Ngự sử, rồi Đốc học Vĩnh Long, thăng Lễ bộ Lang trung. Nhân việc soạn thảo chiếu dụ được vua khen ngợi, ông được ban hàm Thái thường Thiếu khanh, giữ chức Biện lý bộ Hộ. Vì ốm đau ông cáo quan về quê và mất, thọ 68 tuổi.

     Ông nổi tiếng về phương pháp tự học và giáo dục trong gia đình. Thành ngữ “Tố đắc ư đình huấn ” (nhờ gia đình dạy dỗ mà trở nên giỏi) là để ca ngợi phương pháp giáo dục của gia đình ông. Tác phẩm của ông có Khái đồng thuyết ước, La Ngạn biện lý xã (Soạn chung với Đỗ Huy Liêu), La Ngạn thi văn tập, Nam Định chúc hỗ ca cách, Tân Giang từ tập,  Tân Giang văn tập, Tự học cầu tinh ca, Tập thơ Nôm viết về Mẫu Liễu Hạnh, Văn Công gia lễ tồn chân…

   19 – Đỗ Hựu   (1441 –  ?  )

    Quê xã Đại Nhiễm, huyện ý Yên nay thuộc xã Yên Bình, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, từng đi sứ nhà Minh. Ông có công chiêu tập dân khai khẩn vùng đất ven sông Hát. 

   20 – Đỗ Phát (1813 – 1893)

     Có sách chép là Đỗ Tông Phát. Tự là Xạ Phu, hiệu là Tử Huấn (có sách chép là Tử Tuấn).

    Quê xã Quần Anh, huyện Chân Ninh nay thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

    Ông là cha Giải nguyên Cử nhân Đỗ Bỉnh Thành.

    Ông đỗ Giải nguyên Cử nhân khoa Canh Tý 1840, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân ân khoa Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị 3(1843), được bổ Hàn lâm viện Biên tu. Nhận chức được mấy năm ông xin về phụng dưỡng mẹ già. Năm Tự Đức1(1848) ông nhậm chức Tri phủ ứng Hoà, rồi Đốc học Nghệ An. Do bị ốm, ông xin về quê dưỡng bệnh. Trong thời gian dưỡng bệnh ở quê, ông chiêu mộ nghĩa binh xin đi giữ biên giới Đông Bắc. Triều đình triệu ông về kinh thăng hàm Quang lộc Tự thiếu khanh, Quốc sử quán Toản tu, lại điều về Nam Định làm Thương biện tỉnh vụ kiêm Dinh điền Phó sứ. Sau ông phục chức Biên tu kiêm Biện điều sự vụ, lĩnh Dinh điền sứ. Năm 70 tuổi ông về hưu, mất năm 1893 thọ 81 tuổi.

    Có sách chép ông làm quan đến chức Quốc tử giám Tế tửu, sung Dinh điền sứ, bị giáng, sau được phục hàm Hồng lô Tự khanh, thăng Thị lang. Tác phẩm của ông có Điếu vãn đối trướng văn, Hiếu thuận ước ngữ, Thuỷ kính lục.

   21 – Đỗ Văn Toại  (1872 –  ?  )

    Quê xã Nguyệt Mại, huyện Vụ Bản nay là thôn Nguyệt Mại, xãĐại Thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. 

    Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý 1900, đỗ Phó bảng khoa Đinh Mùi niên hiệu Thành Thái 19(1907). Khoa Giáp Thìn 1904 ông đã thi Hội trúng cách, sau khi yết bảng phải về cư tang cha nên khoa Đinh Mùi được vào thi Điện. Ông có tài về hoạ và thơ văn. Ông có tác phẩm  Cổ thụ cách tập (72 bài). 

   22 – Đồng Công Viện  (1681 –  ?  )

    Quê xã Hải Lạng, huyện Đại An nay là thôn Hải Lạng, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

    Ông thi Hương đỗ Tỉnh nguyên. Năm 32 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Vĩnh Thịnh 8(1712) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. 

   23 – Hoàng Phạm Dịch  (1701 –  ? )

      Quê xã Từ Quán, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Từ Quán, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.               

      48 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 9(1748) đời Lê Thần Tông, làm quan đến chức Giám sát ngự sử.

 

   24 – Hoàng Quốc Trân  ( 1751 –  ? )

      Có sách chép là Hoàng Vĩnh Trân.

    Quê xã Nam Chân, huyện Nam Chân nay là thôn Nam Trực, xãĐồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      29 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40(1779) đời Lê Hiển Tông, làm quan đến Hàn lâm viện đãi chế, thự Hiến sát sứ Kinh Bắc.

   25 – Khiếu Năng Tĩnh  (1835 – 1920)

    Quê xã Chân Mỹ, huyện Đại An nay là thôn Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

     Ông là cha các Cử nhân Khiếu Tam Lữ, Khiếu Tứ ứng.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần 1878, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức 33(1880). Khoa này ông đỗ đầu kỳ thi Hội. Ông làm quan trải các chức Đốc học Nam Định, Đốc học Hà Nội, thăng Quốc tử giám Tế tửu.

    Ông là một học giả uyên thâm, nhà văn, nhà giáo nổi tiếng. Tác phẩm của ông có Cố hương vịnh tập, Cổ thụ cách vịnh, Đại An bản mạt khảo, Đại An huyện chí, Hà Nội tỉnh chí, Hoài lai thi tập, Quốc đô cổ kim chí, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược…

    26 – Lã Xuân Oai 

        (5/10 Mậu Tuất 1838  –  23/10 Tân Mão 1891)

    Có sách chép là Lã Xuân Uy, tự là Thúc Bào.

    Quê xã Thượng Động, huyện Phong Doanh nay thuộc xã Yên Tiến, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

     Ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Tý 1864, đỗ Phó bảng khoa ất Sửu niên hiệu Tự Đức 18(1865), được sung vào làm việc ở Tập Hiền viện, rồi lần lượt giữ các chức Tri huyện Kỳ Anh, Tri phủ Nho Quan, án sát Ninh Bình. Ông là một chí sĩ, tác gia yêu nước, bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh.

         Tác phẩm của ông có Côn Đảo thi tập, Thúc Bào thi văn tập, Thanh niên chí.

   27 – Lâm Hữu Lập  ( 1877 –  1947 )

      Quê xã Đại An, huyện Nam Trực nay là thôn Đại An, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1900). 40 tuổi đỗ Phó bảng khoa Bính Thìn niên hiệu Khải Định 1(1916), làm quan Huấn đạo trường quy thức. Mất tại quê. Tác phẩm của ông có Lịch đại chư gia khẩn thổ chí, Thiên gia thi tuyển Hán tự tập (300 bài), Thiên gia thi tuyển quốc âm tập (400 bài).

   28 – Lê Hiến Giản   ( 1341 –  1390 ?)

      Tên trước là Lê Hiến Phủ, phạm huý vua Trần nên đổi thành Lê Hiến Giản.

      Quê trang Thượng Lao, huyện Tây Chân nay thuộc xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Ông vốn dòng dõi Tô Hiến Thành. Cha là Tô Hiến Chương lấy vợ và lập nghiệp ở Tây Chân. Ông có người em sinh đôi là Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ cùng khoa. Cả hai anh em đều đổi từ họ Tô sang học Lê.

      Năm 34 tuổi Lê Hiến Giản đỗ Bảng nhãn khoa Giáp dần niên hiệu Long Khánh 2(1374) đời Trần Duệ Tông, làm quan đến chức Thị lang. Mưu giết Hồ Quý Ly nhưng việc không thành, ông bị sát hại. Trước khi chết ông có đọc hai câu thơ :

Tấc kiếm trừ gian trời đất biết,

Tấm lòng báo nước quỷ thần hay.

   29 – Lê Hiến Tứ  ( 1341 – 1390 ? )

      Quê trang Thượng Lao, huyện Tây Chân nay thuộc xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Ông là con Tô Hiến Chương, em sinh đôi của Bảng nhãn Lê Hiến Giản.

      34 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa Giáp dần niên hiệu Long Khánh 2(1374)đời Trần Duệ Tông, làm quan đến Ngự sử đại phu, có công trong việc bình Chiêm Thành. Ông cùng Lê Hiến Giản mưu giết Hồ Quý Ly không thành, bị sát hại.

   30 – Lương Thế Vinh  ( 1441 – 1496 )

     Tự là Cảnh Nghị, hiệu là Thuỵ Hiên, dân gian quen gọi là Trạng Lường.

    Quê xã Cao Hương, huyện Thiên Bản nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam  Định.

    Ông đỗ Giải nguyên Hương cống khoa Nhâm Ngọ 1462, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4(1463) đời Lê Thánh Tông, được bổ Hàn lâm viện Trực học sĩ, quyền Cấp sự trung Công khoa. Sau ông lại kiêm Đồng bí thư giám, thăng Hàn lâm viện Thị giảng, kiêm Tư huấn Sùng Văn quán và Tú Lâm cục. Năm 1484 ông tham gia soạn thảo Văn bia Tiến sĩ, được thăng Hàn lâm viện Thị giảng Chưởng viện sự, Nhập thị Kinh diên, tri Sùng Văn quán và Tú Lâm cục, Hộ bộ Tả thị lang, tước Hương Lĩnh hầu. Năm 1493 ông làm Độc quyển khảo quan thi Đình khoa Quý Sửu. Năm 1495 ông đi Tây chinh với vua Lê Thánh Tông. Ông từng là Sái phu Tao Đàn hội, có nhiệm vụ biên tập và sửa chữa thơ của các hội viên. Sau khi mất, ông được phong làm Phúc thần.

    Ông là nhà chính trị, nhà toán học, nhà văn, có tài về âm nhạc và nghệ thuật sân khấu chèo. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã đánh giá ông là người ” tài hoa danh vọng vượt bậc “.

      Tác phẩm của ông có : Bang giao thừa mệnh (đã mất), Bài tựa sách Nam tông tự pháp đồ, Bài tựa sách Thiền môn giáo khoa, Bình Nam chỉ chưởng,  Đại thành toán pháp, Đô đốc Đinh Trọng An mộ bi ký, Hý phường phả lục, Nhận thánh Hoàng Thái hậu văn, Phật kinh thập giới, Văn bia chùa Diên Hựu và nhiều thơ chép trong Thiên Nam dư hạ tập.

   31 – Ngô Bật Lượng  ( TK 16 )

      Quê xã Bái Dương, huyện Tây Chân nay là thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Đỗ Hội nguyên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3(1550) đời Mạc Phúc Nguyên, làm quan đến Tả thị lang, hàm Đắc tiền kim vĩnh lộc đại phu, tước Phụng Công hầu. (Có sách chép ông làm quan đến Binh bộ Thượng thư). Ông mất trên đường đi sứ nhà Minh. 

   32 – Ngô Thế Vinh  (1803 – 1856)

    Tự là Trọng Phu, Trọng Nhượng, Trọng Dực, hiệu là Dương Đình, Khúc Giang, Trúc Đường.

    Quê xã Bái Dương, huyện Nam Chân nay là thôn Bái Dương, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

    Ông là em Cử nhân Ngô Đình Thái, ông nội Cử nhân Ngô Huy Trình.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý 1828, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh 10(1829), được bổ chức Hàn lâm viện Biên tu, lĩnh Tri phủ Định Viễn. Sau ông chuyển làm Viên ngoại lang bộ Lại, rồi được thăng Lễ bộ Lang trung. Do phạm lỗi trong khi chấm thi, ông bị cách chức và bị tước cả học vị Tiến sĩ. Ông về quê mở trường dạy học. Ông nhiều lần đề nghị triều đình sửa đổi cách học cách thi nhưng không được chấp nhận. Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại : thơ, phú, trướng, đối, liên, tấu, biểu, sớ, tụng, tự, bạt, bi, minh…  Sau vua Tự Đức đã khôi phục danh hiệu Tiến sĩ cho ông. Tác phẩm của ông có Bài tựa và phê bình sách ức Trai di tập, Bái Dương Ngô Thế Vinh kinh hồi tiễn hành thi tập, Bái Dương Ngô tiên sinh trường thi tập, Bái Dương thi tập,  Bái Dương thư tập, Bái Dương Tiến sĩ Ngô tiên sinh thi tập, Dương Đình phú tuyển, Dương Đình thi phú văn tập, Giai văn tập ký (In chung với Phan Đình Phùng…), Hoàng các di văn, Khái đồng thuyết ước nhuận sắc,   Khảo xích đạc bộ pháp, Khúc Giang Ngô Dương Đình văn tập, Luận thức đại lược, Nam Chân vịnh,Ngô Dương Đình văn tập, Nguyễn triều tấu biểu, Nhị Đào công từ bi, Nữ huấn tân thư,  Tống sử lược, Trúc Đường chu dịch tuỳ bút, Trúc Đường khoá sách, Trúc Đường phú tập,  Trúc Đường phú tuyển, Trúc Đường thi văn tập, Trúc Đường thi văn tập, Trúc Đường thi văn tập tuỳ bút, Trúc Đường thi văn thảo,  Trúc Đường tuỳ bút…

   33 – Ngô Tiêm  ( 1749 – 1818 )

    Quê xã Cát Đằng, huyện Vọng Doanh nay là thôn Cát Đằng, xã Yên Tiến, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40(1779) đời Lê Hiển Tông, làm quan đến chức Đông các Hiệu thư, Đốc đồng kiêm Đốc trấn Lạng Sơn, bị cách chức. Sau ông được phục chức Thái Hoà điện học sĩ, tước Mỹ Phái hầu. Đến đời Lê Mẫn Đế niên hiệu Chiêu Thống ông làm Tổng quản thiên hạ cần vương binh mã hậu giá chinh man đại tướng quân. Sau ông về quê dạy học. Đầu đời Gia Long ông được triệu ra làm Đốc học Sơn Tây, tước Nghĩa Phái hầu. Khi tuổi cao, ông cáo về quê và mất, thọ 70 tuổi. 

   34 – Ngô Trần Thực  (1724 –  ? )

        Có sách chép tên ông là Ngô Đình Thực.

      Quê gốc xã Phật Tích, huyện Tiên Du.

Định cư xã Bách Tính, huyện Nam Chân nay là thôn Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Giải nguyên rồi đỗ khoa Hoành từ. Năm 37 tuổi đỗ Đình nguyên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 21(1760) đời Lê Hiển Tông, làm quan đến Đông các Đại học sĩ, thự Thiêm Đô ngự sử, tước Diên Trạch bá. 

   35 – Nguyễn Âu Chuyên  (1860 – 1895)

    Khi đi thi Hương ông khai tăng tuổi nên nhiều tài liệu chép ông sinh năm Đinh Tỵ 1857.

     Quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

     Ông đỗ Giải nguyên Cử nhân khoa Kỷ Mão 1879, đỗ Phó bảng ân khoa Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc 1(1884).

     Sau khi đỗ Cử nhân, ông được bổ chức Giáo thụ. Năm 1884 ông được thăng Tri huyện rồi Tri phủ. Năm 1890 ông làm án sát Bắc Ninh, năm 1892 thăng Bố chánh Bắc Ninh. Ông mất tại lỵ sở năm 1895, thọ 36 tuổi. Ông có các tác phẩm: Bắc Ninh chí, Hoàng hôn chí.

   36 – Nguyễn Công Bật   (1599 – ? )

      Quê xã Khang Cù, huyện Tây Chân nay là thôn Giao Cù, xãĐồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      54 tuổi ông đỗ Đình nguyên Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Khánh Đức 4(1652) đời Lê Thần Tông, làm quan Đốc học Thanh hoá, sau giữ chức Lại khoa Cấp sự trung, rồi Thị lang bộ Lại, tước tử. Về trí sĩ.

   37 – Nguyễn Danh Nho  (1638 – 1699)

       Hiệu là Sần Hiên.

     Quê gốc xã Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương.

      Định cư xã Cổ Nông, huyện Nam Chân nay thuộc xã Bình Minh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

     Năm 33 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị 8(1670) đời Lê Huyền Tông, làm quan đến chức Bồi tụng Hữu thị lang, tước Nam. Ông từng đi sứ nhà Thanh. Sau khi mất, ông được tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Tử. Tác phẩm của ông còn 12 bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục.

   38 – Nguyễn Địch  ( TK 15 )

      Quê xã Vụ Sài, huyện Đại An nay là thôn Vò, xã Yên Lộc, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3(1442) đời Lê Thái Tông, làm quan đến chức Tả thị lang. Ông có tác phẩm  Nhàn du kiến văn ký. 

   39 – Nguyễn Hiền  (1235 –  1251 ? )

      Quê xã Dương A, huyện Thượng Hiền nay là thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      13 tuổi ông đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Đinh mùi niên hiệu Thiên ứng Chính Bình 16(1247) đời Trần Thái Tông, làm quan đến chức Thượng thư. Ông nổi tiếng là thần đồng, có tài ứng đối rất nhanh. Ông mất sớm khi đương chức. Ông có tác phẩm  áp tử từ kê mẫu du hồ phú.

   40 – Nguyễn Ngọc Liên  (1848 – 1937)

    Quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

    Ông là em Cử nhân Nguyễn Đức Ban.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Tuất 1886, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1(1889), được bổ chức Tri phủ Nam Sách. Do không chịu lạy chào Toàn quyền Đông Dương De Lanessan nên ông bị giáng Hậu bổ. Sau được tái bổ chức Đốc học Nam Định nhưng ông từ chối. Ông mở trường dạy học ở quê, có nhiều người theo học. 

   41 – Nguyễn Sùng Nghê  (1428 – ? )

     Nguyên quán huyện Vĩnh Xương nay thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

      Định cư xã Hiển Khánh, huyện Thiên Bản nay thuộc xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

      Năm 48 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi niên hiệu Hồng Đức 6(1475) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, sau từ quan về dạy học.

   42 – Nguyễn Thế Trân  (1603 –  ?  )

    Quê xã Bách Tính, huyện Thượng Nguyên nay là thôn Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Năm 26 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10(1628) đời Lê Thần Tông, làm quan đến Cấp sự trung. 

43 – Nguyễn Tử  Đô   (1464 –  ? )

    Quê xã Tử Mặc, huyện ý Yên nay thuộc xã Yên Trung, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Năm 36 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2(1499) đời Lê Hiển Tông,được bổ chức Tri phủ Nghĩa Hưng, rồi Phó đô Ngự sử. Năm 55 tuổi (1518) ông cáo quan về quê cùng con trai làm nghề chài lưới. 

44 – Nguyễn Văn Thành  (1872 –  ?  )

    Quê xã Thức Vụ, huyện Đại An nay là thôn Thức Vụ, xã Yên Cường, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ 1906, đỗ Phó bảng khoa Đinh Mùi niên hiệu Thành Thái 19(1907), làm quan Giáo thụ ứng Hoà. 

45 – Nguyễn Văn Tính  (1861 – 1930)

    Quê xã Cựu Hào, huyện Vụ Bản nay là thôn Cựu Hào, xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Sau khi đỗ Tú tài, ông được vào học ở Quốc tử giám. Năm 41 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 13(1901), được bổ chức Đốc học Hải Dương. Năm sau ông cáo quan về quê. Tác phẩm của ông có Minh kinh chí, Thiên Bản diên cách chí, Thiên Bản lục kỳ ký. 

  46 – Nguyễn  Ý   (1485 –  ? )

      Quê xã Thư Nhi, tổng Hộ Xá, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Ngọc Thỏ, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      27 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận 3(1511) đời Lê Tương Dực, làm quan đến Tự khanh.

   47 – Phạm Bảo  (1456 – 1501)

    Quê xã Hoàng Xá, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Nhân, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Ông là em họ Tiến sĩ Phạm Đạo Phú.

    Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông.

    Ông là người văn võ song toàn, được bổ ngạch quan võ, giữ chức Chưởng nội thị, trải thăng Trấn thủ Nghệ An, Đại tướng đổng quân, Phó đô ngự sử. Ông mất trên đường hộ giá vua Lê Hiến Tông đi chinh chiến năm Cảnh Thống 4(1501). (Có tài liệu chép ông mất tại lỵ sở khi chuẩn bị đi kinh lý Bổn Man năm 1497).  Hiện ở làng Hưng Thịnh còn đền thờ anh em ông.

   48 – Phạm Duy Chất (1616 – 1665)

     Còn có tên là Phạm Duy Hiền.

    Quê xã Ngọ Trang, huyện Thiên Bản nay là thôn Ngọ Trang, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông đố Hương cống khoa Kỷ Mão 1639, được bổ chức Chỉ huy thiêm sự. Năm 44 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ 2(1659) đơì Lê Thần Tông, bài ứng chế của ông đứng thứ nhất. Sau ông lại đỗ khoa Đông các, làm quan Đông các Hiệu thư. Năm 1663 ông làm Tham chính đạo Sơn Tây, rồi thăng Đông các Đại học sĩ. Sau khi mất, ông được tặng Hữu thị lang.

      49 – Phạm Duy Cơ   (1685 –  ? )

      Quê xã Từ Quán, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Từ Quán, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

26 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh dần niên hiệu Vĩnh Thịnh 6(1710) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến Hình khoa Cấp sự trung, tước Thuân Hải bá. 

50 – Phạm Đạo Phú  (1463 – 1539)

    Quê xã Hoàng Xá, huyện Đại An nay là thôn Phạm Xá, xã Yên Nhân, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Định cư xã Hưng Thịnh, huyện Đại An nay thuộc xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

    Ông là anh họ Hoàng giáp Phạm Bảo.

    Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21(1490) đời Lê Thánh Tông, được bổ chức Hàn Lâm viện Kiểm thảo, thăng tới Hình bộ Tả thị lang. Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ông từ quan về quê dạy học.  Sau khi mất, ông được vua Lê Thế Tông tặng hàm Tham tri và phong làm phúc thần.

    Ông nổi tiếng về văn thơ. Tác phẩm của ông có Tập thơ chiêu hồn bằng chữ Nôm, 15 bài thơ chép trong một số sách.

51 – Phạm Đăng Giảng

         (Giáp Ngọ 1834 – ? )

       Quê xã Tam Đăng, huyện Đại An nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông là con Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, anh các Cử nhân Phạm Đăng Hân, Phạm Đăng Phổ, Phạm Đăng Hài.

      Ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Tý 1864, đỗ Phó bảng khoa ất Sửu niên hiệu Tự Đức 18(1865), làm quan đến Bố chánh Thanh Hoá, cải bổ Thương biện tỉnh vụ Nam Định, lo việc điều binh chống Pháp rồi mất ở chiến khu.

52 – Phạm Gia Môn  (1525 –  ?  )

    Quê xã Dương Hồi, huyện Đại An nay là thôn Dương Hồi, xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Năm 30 tuổi ông mới đi học. Năm 53 tuổi ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) khoa Đinh Sửu niên hiệu Sùng Khang 10(1577) đời Mạc Mậu Hợp, làm quan đến chức Binh bộ Tả thị lang, tước Nhân Hà bá. Năm 1592 Mạc Mậu Hợp bị bắt và bị giết, ông khởi quân ở Đồ Sơn chống lại nhà Lê. Việc không thành, ông bị quan quân nhà Lê xử tử. 

53 – Phạm  Hùng  (TK 15)

    Quê xã Đường Sơn, huyện Thiên Bản nay thuộc làng Hổ Sơn, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức 12(1481) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Hàn lâm viện Biện lý, Hình bộ Hữu thị lang. Sau ông về trí sĩ, thọ 78 tuổi. 

54 – Phạm Hữu Du  ( 1682 – ? )

      Quê xã Quán Các, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Quán Các, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      43 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp thìn niên hiệu Bảo Thái 5(1724) đơì Lê Dụ Tông, làm quan đến Công bộ Hữu Thị lang, tước Quán Anh bá. Về trí sĩ. Ông có tác phẩm Bần gia dụng dược bằng chữ Nôm rất giá trị.

55 – Phạm Khắc Thận

(1441- 1/ 9 Kỷ Tị 1509)

      Tự là Lạc Toàn.

      Quê làng Ngưu Trì, huyện Nam Chân chuyển đến định cư xã Cổ Tung, huyện Nam Chân nay là thôn Cổ Tung, xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.      

53 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý sửu niên hiệu Hồng Đức 24 (1493) đời Lê Thánh Tông, được bổ chức Hàn lâm viện Hiệu lý. Năm Đinh tỵ (1497)  ông làm Phó sứ sang nhà Minh. Khi về nước, ông được thăng Lễ bộ Tả Thị lang, tước Xuân Lâm tử. Năm 1509 ông cầm quân dẹp hải phỉ ở sông Bạch Đằng, bị giặc chém đứt cánh tay trái rồi hy sinh. Vua Lê Hiến Tông truy tặng ông hàm Lễ bộ Thượng thư, thuỵ là Cương Nghị, phong làm phúc thần.     

56 – Phạm  Kim  Kính 

(16/1 Quý Hợi 1683 – ? )

Có sách chép ông sinh năm 1669. Còn gọi là Phạm Đình Kính.

    Quê xã Cổ Sư, huyện Thiên Bản nay là thôn Vĩnh Lại, xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Trước ông đã đỗ khoa Sĩ Vọng. Sau ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh 6(1710) đời Lê Dụ Tông, làm quan trải các chức Lễ bộ Thượng thư, Tham tụng, Đông các Đại học sĩ Nhập thị Kinh diên. Năm 1723 ông được cử đi sứ mừng Thanh Thế Tông lên ngôi, được vua nhà Thanh tặng biển vàng đề “Vạn thế vĩnh lại” (Muôn đời được cậy nhờ). Khi về hưu, ông được phong tước Lại Quận công. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.

    57 – Phạm Ngọc Thuỵ  (1871 –  ?  )

    Còn gọi là Phạm Danh Sắc, Phạm Ngọc Đoan.

    Quê xã Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

    Ông là con Cử nhân Phạm Ngọc Chất.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ 1894, đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệu Thành Thái 13(1901), được bổ chức Giáo thụ làm việc ở nhiều nơi như Nghĩa Hưng, Lạng Sơn, Yên Lạc (Vĩnh Yên), Thuận Thành (Hà Bắc), Trực Ninh, ứng Hoà… Năm 1916 ông làm Phụ tá cho các quan huyện, phủ. Năm 1927 ông về hưu. 

58 – Phạm Thế Lịch  (1791 – 1872)

     Có sách chép ông mất 1883.

     Sau đổi tên là Phạm Thế Trung, tự là Quý Hoà, hiệu là Chỉ Trai.

     Quê xã Quần Mông, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Lạc Quần, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý 1828, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh 10(1829), làm quanđến Tổng đốc Ninh Thái, từng đi sứ nhà Thanh. Năm 1852 bị miễn chức, ông về quê mở trường dạy học. Tác phẩm  của ông có Sứ Hoa quyển, Sứ Thanh văn lục…     

59 – Phạm Tráng 

(Cuối TK 15 – Đầu TK 16 )

      Quê xã Dũng Nhuệ, huyện Giao Thuỷ nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. (Làng Dũng Nhuệ xưa đã bị lở xuống sông Hồng ).

      Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5(1502) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến chức Lại bộ Hữu thị lang.

60 – Phạm Trọng Huyến  (1746  –  ?  )

     Còn có tên là Phạm Trọng Việp, tự là Sỹ Huy, hiệu là Dũng Ông.

    Quê xã Dũng Quyết, huyện ý Yên nay là thôn Dũng Quyết, xã Yên Phú, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

Năm 33 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Cảnh Hưng 39(1778) đời Lê Hiển Tông, được bổ chức Tri phủ Lỵ Nhân, rồi Hàn lâm viện Thị chế Tri hộ phiên, Hàn lâm viện Thị thư. Sau ông bị cách chức. Tác phẩm  của ông có  ý Yên chư cổ tích đề vịnh.

61 – Phạm Văn Nghị  (1805 – 1880)

    Hiệu là Nghĩa Trai, Liên Hoa Động Chủ Nhân.

    Quê xã Tam Đăng, huyện Đại An nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Đinh Dậu 1837, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Minh Mệnh 19(1838), được bổ chức Tri phủ Lý Nhân, Hàn lâm viện Tu soạn, Sử quán Biên tu. Tác phẩm của ông có Tùng viên thi tập, Bài phú Pháp đánh Bắc Kỳ lần đầu 1873, Phạm Nghĩa Trai tự ký, Sơn thuỷ quốc âm thi…

62 – Phan Thiện Niệm  (1869 –  ?  )

    Quê xã Quả Linh, huyện Vụ Bản nay là thôn Quả Linh, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông là cháu Cử nhân Phan Văn Lịch.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ 1906, đỗ Phó bảng khoa Đinh Mùi niên hiệu Thành Thái 19(1907), làm quan Tri huyện Cẩm Khê. Tác phẩm của ông có Cẩm Khê ký, Thiện Niệm thi tập.

63 – Tống Hân  (1535 –  ? )

      Tên khác là Sơn Thành, tự là Xuân Vũ, hiệu là Hoà Phong.

     Quê xã Vũ Lao, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Vũ Lao, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      22 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo 2(1556) đời Mạc Phúc Nguyên, làm quan đến Thượng thư, tước Lễ Khê bá. 

64 – Trần Bích Hoành  (1452 –  ?  )

     Quê xã Vân Cát, huyện Thiên Bản nay là thôn Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ. 

65 – Trần Bích San  (1838 – 1878)

       Còn có tên là Trần Hy Tăng, tự là Vọng Nghi, hiệu là Mai Nham.

   Quê xã Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc nay thuộc nội thành Nam Định, tỉnh Nam Định.

    Ông là con Phó bảng Trần Doãn Đạt.

    Ông đỗ Tú tài khoa Tân Dậu 1861, đỗ Giải nguyên Cử nhân khoa Giáp Tý 1864, đỗ Hội nguyên và Đình nguyên Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa ất Sửu niên hiệu Tự Đức 18(1865), được vua ban cho cờ “Liên trúng Tam nguyên” và cho đổi tên là Trần Hy Tăng.

    Sau khi đỗ Hoàng giáp, ông được bổ chức Hàn lâm viện Tu soạn, sung Nội các Bí thư sở hành tẩu. Năm 1867 ông làm Tri phủ Thăng Bình, năm 1868 đổi Tri phủ Điện Bàn, rồi án sát Bình Định. Khi làm Phó chủ khảo trường thi Hương ở Thừa Thiên, ông gợi ý cho thí sinh nói trái ý định thoả hiệp của Tự Đức nên bị giáng làm Tri phủ An Nhơn. Năm 1869 ông được thăng hàm Hồng lô Tự thiếu khanh, Biện lý bộ Hộ kiêm quản Thông chính ty, Chưởng Hàn lâm viện. Năm 1871 ông được cử đi công cán ở Quảng Đông (Trung Quốc). Năm 1874 ông được thăng Lại bộ Thị lang, Tuần phủ Trị Bình, rồi Tuần phủ Hà Nội. Năm 1878 ông làm Lễ bộ Tả tham tri, sung Chánh sứ đi Pháp, nhưng chưa kịp đi thì mất ở Huế. Sau khi mất, ông được truy tặng hàm Tham tri.

    Tác phẩm của ông có Gia huấn ca, Mai Nham Trần tiên sinh thi thảo, Nhân sự kim giám, Thanh Tâm tài nhân thi tập, Thế sự nan tri vịnh…

66 – Trần Doãn Đạt  (1822 –  ?  )

         Còn có tên là Trần Đình Khanh, Trần Đình Giám.

    Quê xã Vị Hoàng, huyện Mỹ Lộc nay thuộc nội thành Nam Định, tỉnh Nam Định.

    Ông là cha Tam nguyên Hoàng giáp Trần Bích San.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý 1852, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức 15(1862), làm quan án sát Hưng Hoá. Ông có tác phẩm  Nam Định thuỷ mạt khảo.

67 – Trần Đạo Tái  (TK 13)

        Quê hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường nay là thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

     Ông là con Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, cháu nội vua Trần Thái Tông.

     Ông đỗ Bảng nhãn dưới triều Trần Thánh Tông khi mới 14 tuổi, được phong tước Văn Túc Vương. Tác phẩm của ông có Thiên Trường cảnh vịnh tập.

68 – Trần Đình Huyên  (1561 –  ? )

      Quê xã Cổ Chử, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Dứa, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Ông là con Trạng nguyên Trần Văn Bảo.

26 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái 2(1586) đời Mạc Mậu Hợp (Có sách chép nhầm là Đoan Thái 1), làm quan nhà Lê đến Công khoa Đô cấp sự trung, thăng Hình bộ Thượng thư. Sau ông bỏ đi không rõ tông tích.

69 – Trần Hữu Thành  (1558 –  ?  )

    Quê xã Đào Lạng, huyện Đại An nay thuộc xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

    Năm 29 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoang giáp) khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái 2(1586) đời Mạc Mậu Hợp, được bổ chức Trấn đông tướng quân, rồi Đề hình Giám sát Ngự sử. Sau ông theo nhà Lê. 

70 – Trần Kỳ  (TK 15)

    Quê xã An Thái, huyện Thiên Bản nay là thôn An Thái, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quanđến chức Hàn lâm viện, Đông Các Hiệu thư. 

71 – Trần Mại  (1688 –  ? )

      Có sách chép là Trần Lệ, Trần Lộ.

    Quê xã Vị Hoàng, huyện Mỹ Lộc nay thuộc nội thành Nam Định, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái 2(1721) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Công bộ Hữu thị lang. Sau ông về trí sĩ, thuỵ là Doãn Phác Tiên Sinh. 

72 – Trần Thuỵ  (TK16)

      Có sách chép là Trần Nhụ, Trần Thuỵ Công.

      Quê xã Ngọc Bộ, huyện Đại An nay là thôn Độc Bộ, xã Yên Nhân, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức 3(1529) đời Mạc Đăng Dung, làm quan đến Hàn lâm viện Hiệu thảo. 

73 – Trần Văn Bảo (1521 –  1610)

       Trần Văn Bảo sau đổi là Trần Văn Nghi, có sách chép là Trần Văn Tuyên.

      Quê xã Cổ Chử, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Dứa, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      27 tuổi ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3(1550) đời Mạc Phúc Nguyên, làm quan đến Thượng thư, tước Nghĩa Sơn bá, sau khi mất được ban tước Nghĩa Quận công. Ông từng được cử đi sứ nhà Minh. Năm 1586 ông bỏ quan đi ẩn dật tại làng Phù Tải, huyện Bình Lục (nay thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Tại đây ông mở trường dạy học đào tạo nhân tài cho đất nước đến khi mất.

74 – Trần Xuân Vinh  (TK 15)

         Quê xã Năng Lự, huyện Mỹ Lộc nay thuộc phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

     Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2(1499) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến chức Đô cấp sự trung. 
75 – Trịnh Hữu Thăng  (1885 –  ?  )

    Nguyên quán xã Bách Tính, huyện Thượng Nguyên nay thuộc xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

    Định cư phố Định Tả, tỉnh Nam Định nay thuộc nội thành NamĐịnh, tỉnh Nam Định.

    Ông là con Cử nhân Trịnh Quang Chiểu, em Cử nhân Trịnh Hữu Phu.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Kỷ Dậu 1909, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4(1919), làm quan đến Thừa phái Cơ mật viện.

76 – Vũ Công Độ   (1805 –  ?  )

      Quê xã Vị Hoàng, huyện Mỹ Lộc nay thuộc nội thành NamĐịnh, tỉnh Nam Định.

     Ông là cha nhà thơ Vũ Công Tự.

Ông là Giám sinh, năm 28 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Minh Mệnh 13(1832), làm quan Thái bộc Tự khanh, quyền Bố chánh Thái Nguyên. Tác phẩm  của ông có Tự miễn thi.

77 – Vũ Diệm  ( TK 19 )

    Quê xã Lộng Điền, huyện Đại An nay là thôn Lộng Điền, xã Nghĩa Đồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Mão 1843, đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị 4(1844), làm quan Bố chánh Hải Dương, thăng Hình bộ Tả thị lang. Sau về nghỉ. Tác phẩm  của ông có LộngĐiền Vũ Tiến sĩ thi tuyển. 
78 – Vũ Duy Thiện  (TK 15)

      Quê xã An Cự, huyện Thiên Bản nay là thôn An Cự, xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

      Trước ông đã đỗ khoa Hoành Từ.

      Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quanđến chức Hiến sát sứ, Nhập thị kinh diên, tước tử. Ông từng được cử đi sứ nhà Minh.

79 – Vũ Đình Dung  (1699-1740)

Quê gốc phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức nay thuộc phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, Hà nội.

Định cư xã Cà Đông, huyện Nam Chân nay thuộc xã Nam Cường, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định,

         35 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2(1733) đời Lê Thuận Tông, làm quan đến Hàn lâm viện Thừa chỉ, được thăng Hữu thị Lang tước Phùng lĩnh tá. Một số tài liệu chép ông lấy vợ làng Bái Dương nay thuộc xã Nam Dương, huyện Nam Trực. Năm 1739 ông cùng Đoàn Doanh Chấn, Tú Cao dấy binh khởi nghĩa tại làng Ngân Già. Năm 1740 Chúa Trịnh Doanh đem quân tới đàn áp, ông đã thủ tiết.

80 – Vũ Đoan  (TK 16)

Quê xã Đồng Lư, tổng Hộ Xá, huyện Giao Thuỷ nay là thônĐồng Lư, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên 2(1523) đời Lê Cung Hoàng, làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư. Ông có công lập ra làng An Hoạch và phục hưng nghề đục đá.

81 – Vũ Huy Trác 

       (7/5 Canh Tuất 1730 – 3/10 Quý Sửu 1793 )

           Hiệu là Giác Trai.

     Quê xã Lộng Điền, huyện Đại An nay là thôn Lộng Điền, xã Nghĩa Đồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

    Sau khi đỗ Hương cống, ông nhận chức Binh bộ Tư vụ. Năm 1763 ông làm Huấn đạo Tiên Hưng, năm 1768 được thăng Tri huyện Nam Chân.

    Năm 43 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33(1772) đời Lê Hiển Tông.

    Năm 1773 ông được sung Hàn lâm viện Hiệu thảo. Năm 1777 ông giữ chức Công khoa Đô cấp sự trung, rồi Giám sát ngự sử Thanh Hoá, Hiến sát sứ Kinh Bắc. Năm 1779 ông chuyển làm Hiến sát sứ Nghệ An. Năm 1782 ông làm Tham chính Kinh Bắc, Hàn lâm viện Thị thư. Năm 1783 ông làm Đốc trấn Lạng Sơn, năm 1785 được thăng hàm Hàn lâm viện Thị giảng, năm 1787 thăng Hàn lâm viện Thị độc, tước Côi Lĩnh bá. Năm 1788 ông giữ chức Lễ bộ Tả thị lang, kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp, Giám quân đạo Sơn Nam. Đến thời Tây Sơn ông về quê dạy học.

    Ông nổi tiếng giỏi văn chương, người đường thời tôn vinh ông là “Thần phú”. Tác phẩm của ông có Giang nam lão phố thi tập, Nam Chân nhân vật khảo, Nhất thân thường hành quốc âm ca, Liêu Động di biên (chuyển thể 10 bài ca dao chữ Hán của Trần Nhật Duật thành 10 bài phú Nôm).

      

82 – Vũ Hữu Lợi  (1836 – 1886)

       Sau đổi là Vũ Ngọc Tuân. Hiệu là Nghĩa Phẫn. Dân gian thường gọi là ông nghè Giao Cù.     

           Quê xã Giao Cù, huyện Nam Chân nay là thôn Giao Cù, xãĐồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

           Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Ngọ (1870).

40 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất hợi niên hiệu Tự Đức 28(1875), làm quan trải các chức Đốc học Nam Định, Thương biện Nam Định, Binh bộ Tá lý. Năm 1884 ông bỏ quan về quê dạy học, tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. Ông bị Vũ Văn Báo lừa bắt nộp cho Pháp, bị hành hình vào đêm 30 tết Bính Tuất (1886) tại bờ sông Đào Nam Định. 

83 – Vũ Kiệt  (TK 15)

         Có sách chép là Vũ Công Kiệt.

         Quê xã Sa Lung, huyện Tây Chân nay là thôn Sa Lung, xãĐồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9(1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Cấp sự trung. 

84 – Vũ Thiện Đễ  (1854 – 1916)

    Tự là Thuận Trai, hiệu là Trang Khải.

    Quê xã Bách Cốc, huyện Vụ Bản nay là thôn Bách Cốc, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Cử nhân khoa Tân Mão 1891, đỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Thành Thái 4(1892), được bổ chức Tri phủ Thanh Hà, thăng Binh bộ Tham tri, rồi Tuần phủ Hà Nam – Ninh Bình, sau thăng đến Tổng đốc.

    85 – Vũ Triệt Võ  (1460 –  ? )

    Quê xã Đào Lạng, huyện Đại An nay thuộc xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

    28 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông. (Sách Đại Việt lịch đại Tiến sĩ khoa thực lục chép ông đỗ năm 47 tuổi), làm quan đến chức Hình bộ Tả thị lang. 

86 – Vũ Tuấn Chiêu  (1425 –  ? )

Quê xã Cổ Da, huyện Tây Chân nay là thôn Xuân Lôi, xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Định cư phường Nhật Chiêu, huyện Quảng Đức nay là thôn Nhật Tảo, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm,  thành phố Hà Nội.

51 tuổi ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa ất mùi niên hiệu Hồng Đức 6(1475) đời Lê Thánh Tông. (Sách Đại việt lịch đại Tiến sĩ khoa thực lục chép ông đỗ Trạng nguyên năm 55 tuổi), làm quan đến chức Lại bộ tả Thị lang. 

87 – Vũ Vĩnh Trinh  ( TK 15 )

    Tự là Hựu Chi.

    Quê xã An Cự, huyện Thiên Bản nay là thôn An Cự, xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông đỗ Đệ nhất giáp khoa Minh Kinh năm Kỷ Dậu niên hiệu Thuận Thiên 2(1429) đời Lê Thái Tổ, được bổ chức Giáo thụ. Đến đời Lê Thánh Tông, ông làm Hàn lâm viện Đại học sĩ, quyền Lễ bộ Hữu thị lang, Hải Tây đạo tuyên chính sứ ty, kiêm Bí thư giám, Tri kinh diên sự. 

88 – Vương Văn Hiệu  ( TK13 )

      Quê huyện Thượng Hiền nay thuộc tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ thứ ba Đệ nhất giáp khoa thi Thái học sinh năm Mậu Thìn niên hiệu Trinh Khánh 3 đời Lý Huệ Hoàng. (Lý Huệ Hoàng có thể là Lý Huệ Tông (1211 – 1224), nhưng triều vua này không có hiệu Trinh Khánh. Năm Mậu Thìn 1208 thuộc triều Lý Cao Tông (1176 – 1210 ) có niên hiệu là Trinh Phù. Do vậy chưa có cứ liệu chính xác).

các vị đại khoa chưa có cứ liệu chính xác

89 – Bùi  Chí  (TK15)

    Quê xã An Lãng, huyện Trực Ninh nay thuộc xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

    Không rõ hành trạng và khoa thứ của ông, chỉ biết ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) thời Lê, làm quan trải bốn triều vua, được phong tước Lại Quốc công. Ông có tác phẩm  Đa tạ Hoàng thiên thi tập.   

           90 – Bùi  Ư  Đài (Cuối TK14 –  Đầu TK15)

      Tự là Doãn Trung, thuỵ là Phúc Toàn.

     Quê xã Bách Cốc, huyện Thiên Bản nay là thôn Bách Cốc, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

        Theo Gia phả họ Bùi và văn bia ở làng Bách Cốc, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ông đỗ Thám hoa khoa thi Thái học sinh thời Trần (không rõ khoa thứ), không ra làm quan mà ở nhà dạy học. Khi Lê Lợi dấy binh chống giặc Minh, ông đã dẫn một số trai làng vào Thanh Hoá theo Lê Lợi. Năm 1427 ông được phong chức Lễ bộ Thượng thư kiêm Tri Đông Đạo quân dân bạ tịch, sau đổi Tri Bắc Đạo quân dân bạ tịch. Năm 1434 vì khuyên vua không dùng bọn gian thần nên ông bị giáng chức lưu đày. Năm 1437 ông được minh oan và phục chức Đồng tri môn hạ tả ty sự kiêm Tham tri quân dân bạ tịch Tây Đạo, tước Trí tự. Ông mất vào thời Lê Nhân Tông, thọ 78 tuổi. Sau khi mất, ông được truy tặng Thái phó Bình quận công và được phong làm Thành hoàng làng Bách Cốc.

91 –  Dương Kỳ  (TK16)

      Quê xã Cao Hương, huyện Thiên Bản nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo 5(1559) đời Mạc Phúc Nguyên, làm quan đến chức Tán trị Thừa chính sứ. (Trong Đăng khoa lục khoa thi 1559 lấy đỗ 20 người nhưng không thấy có tên ông).

92 – Đào Đăng Quỹ  ( ? – ? )    

      Quê xã Đệ Nhị, huyện Mỹ Lộc nay thuộc xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Tham tụng Thượng thư lệnh kiêm Tri nội ngoại quân quốc trọng sự, tước Tế Mỹ hầu, thuỵ Trung ái. Sách Nam Định tỉnh chí của Ngô Giáp Dậu chép ông đỗ Tam nguyên.  

           93 – Đinh Chấn Cương  ( ? – ? )    

      Quê xã Lương Xá Hạ, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) triều Lê, làm quan Tri phủ Thiên Trường, rồi Binh khoa Cấp sự trung. Hiện cònđền thờ ông ở quê. Cha ông là Đinh Thúc Thông có đền thờ ở Quán Vinh (Nho Quan).

94 – Đinh Công Quy  ( ? – ? )    

      Quê xã An Hạ, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Thám hoa triều Lê Mạt.

95 – Đinh Viết…  ( TK 16 )    

      (Không rõ tên)

      Quê xã Đồng Lư, huyện Nam Chân nay là thôn Đồng Lư, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.  Lịch sử xã Tân Thịnh chép ông đỗ Tiến sĩ năm 1523.    

            96 – Đỗ Công Hoan  ( ? – ? )    

       Quê xã Lương Xá Hạ, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Đốc trấn Cao Bằng.

97 – Đồng Nhân Đức  ( ? – ? )    

      Quê xã Đồi Tam, huyện Đại An nay là thôn Tam Đăng, xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Thám hoa triều Lê, làm quan đến Trấn quốc Chỉ huy sứ, có công đánh phỉ ở Lạng Sơn. 

98 – Hà Nhân Giả  (TK15 – TK16)

    Quê xã Lựu Phố, huyện Mỹ Lộc nay thuộc xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Thám hoa khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5(1502) thời Lê. Làm quan đến Hiến sát sứ. Sau di cư tới thôn Hoa Dương (huyện Kim Động). Hiện nay ở Lựu Phố vẫn còn mộ cha mẹ ông.

99 – Hoàng Ngọc (TK18)

     Quê xã Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu nay thuộc xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Hương tiến khoa Quý Hợi, đỗ Tam giáp Tiến sĩ thời Cảnh Hưng. (Khoa Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 4(1743) lấy đỗ 7 Tiến sĩ nhưng không thấy tên ông).        

               

           100 – Nguyễn Công Huy   ( ? – ? )

      Quê xã Cổ Liêu, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Lương, huyện  ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ triều Trần, làm quan Trấn thủ Bồng Châu, thăng Nhập thị á thượng phẩm đại hành khiển.

101 – Nguyễn Quốc Bảo  ( ? – ? )

        Quê xã Trúc Lại thuộc tỉnh Hải Dương.

      Định cư xã Cổ Lũng, huyện Nam Chân nay thuộc xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Ngự sử đô đài.

102 – Nguyễn Vi  Phụ  ( TK16)

      Quê xã Quán Các, huyện Nam Chân nay thuộc xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

      Lịch sử xã Tân Thịnh chép ông đỗ Tiến sĩ 1510. (Năm 1510 không có khoa thi Tiến sĩ. Khoa Tân Mùi Hồng Thuận 3(1511) và khoa Mậu Thìn Đoan Khánh 4(1508) đều không có tên ông).       

           103 – Phạm Công Tất    ( ? – ? )

      Quê xã Phù Đô, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Hàn lâm Trực học sĩ.

104 – Phạm Giai   ( ? – ? )

      Quê xã Đông Cao, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Lộc, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Binh bộ Tả thị lang.

105 – Phạm Hoàng   ( ? – ? )

     Quê làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản nay thuộc xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Lịch sử xã Liên Minh chép ông đỗ Tiến sĩ năm 1721. (Khoa Tân Sửu Bảo Thái 2(1721) không thấy tên ông)

106 – Tống Ba Thuỵ  ( TK16 )

      Quê xã Vũ Lao, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Vũ Lao, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. 

      Lịch sử xã Tân Thịnh chép ba anh em ông là Tống Văn Mỹ, Tống Ba Thuỵ, Tống Văn Nhã đều đỗ Tiến sĩ cùng khoa năm 1556. (Khoa 1556 không thấy tên ba anh em ông. Khoa này chỉ có một người quê Vũ Lao là Tống Hân).

107 – Tống Văn Mỹ  ( TK16 )

      Quê xã Vũ Lao, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Vũ Lao, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. 

      Ba anh em ông là Tống Văn Mỹ, Tống Ba Thuỵ, Tống Văn Nhãđều đỗ Tiến sĩ cùng khoa năm 1556.

108 – Tống Văn Nhã  ( TK16 )

      Quê xã Vũ Lao, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Vũ Lao, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. 

      Ba anh em ông là Tống Văn Mỹ, Tống Ba Thuỵ, Tống Văn Nhãđều đỗ Tiến sĩ cùng khoa năm 1556.

109 – Trần Công Lâm  ( ? – ? )

     Tự là Duy Tâm.

      Quê xã An Hạ, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Lại bộ Tả thị lang.

110 – Trần Công Tâm  ( ? – ? )

      Quê xã An Hạ, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê.

111 – Trần Công Trí  ( ? – ? )

      Quê xã An Trung, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan Thiên Trường chuyển vận phó sứ.

112 – Trần Duy Năng  (  ?  –  ?  )

      Quê xã An Cự, huyện Thiên Bản nay là thôn An Cự, xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

    Ông từng đỗ Tiến sĩ chế khoa (không rõ khoa thứ). Dân làng chê ông nghèo không đón rước khi ông vinh quy, ông giận bỏ vào ởĐông Sơn (Thanh Hoá) làm thuốc chữa bệnh nuôi gia đình. 

113 – Trần Đăng Huỳnh  ( TK16 )

    Có sách chép là Trần Đăng Oánh, thuỵ là Hựu Mỹ Tiên Sinh.

    Quê xã Vị Dương, huyện Mỹ Lộc nay là thôn Vị Dương, xã Mỹ Xá, thành phố Nam Định, tỉnh Nam  Định.

    Ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân thời Lê (không rõ khoa thứ, có sách chép ông đỗ khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo 2(1556) đời Mạc Phúc Nguyên nhưng tra trong Đăng khoa lục không thấy có tên ông). Ông làm quan trải các chức Giám sát Đô ngự sử, Trấn thủ Hiến Nam. Sau ông bỏ quan về quê rồi đi Bắc Ninh làm nghề thuốc. 

114 – Trần Tiệp  ( ? – ? )

      Tự là Cần Cán.

      Quê xã Hạc Bổng, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Trị, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Hiến sát sứ Lạng Sơn.

115 – Vũ Công Bình  ( ? – ? )

      Quê xã Hạc Bổng, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Trị, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Trấn tướng vùng Đông Hải.

116 – Vũ Công Tế   ( ? – ? )

      Quê xã Đào Khê, huyện Đại An nay thuộc xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê (Không rõ khoa thứ), làm quan đến Tả thị lang, tước Tô Xuyên bá, thuỵ là Mặc Hiên. 

117 – Vũ Công Vỹ  ( ? – ? )

      Quê xã An Hạ, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

      Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Tả thị lang, sau về dạy con em  trong xã học tập.

118 – Vũ Công Xuyên  ( ? – ? )

     Tự là Đại Giang.

     Quê xã Thôi Ngôi, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Trị, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định

     Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Tri phủ Yên Khánh, tước Vương Tường bá.

119 – Vũ Đức Nhã  ( ? – ? )

     Hiệu là Lan Khê.

     Quê xã Hào Kiệt, huyện Thiên Bản nay thuộc xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

     Lịch sử xã Liên Minh chép ông đỗ Thám hoa khoa Hoành từ triều Lê.

120 – Vũ Giang  ( ? – ? )

     Tự là Đào Xuyên.

     Quê xã An Hạ, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Đề hình Giám sát ngự sử.

121 – Vũ Thế Bá  ( ? – ? )

       Quê xã Thôi Ngôi, huyện Đại An nay thuộc xã Yên Trị, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định.

Ông đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Công bộ Tả thị lang, tước Tô Xuyên bá. 

                                                                                           Nguồn Newvietart.com

Tiến sĩ Đặng Hữu Dương

Tiến sĩ Đặng Hữu Dương

TRẦN MỸ GIỐNG

1 – Một vị  quan công minh 

    Đặng Hữu Dương sinh năm Canh Thân 1860(1) tại làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ nay là thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình có truyền thống nho học. Ông là con trưởng ông Đặng Hữu Thới và là cháu đích tôn Cử nhân Giáo thụ phủ Kinh Môn (Hải Dương) Đặng Văn Bính. Em ruột ông là Đặng Hữu Nữu (tức Do) cũng đỗ Cử nhân, làm Tri huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang).

     Hồi nhỏ, Đặng Hữu Dương học cụ đồ Đặng Vũ Diễn ở làng. Ông tỏ ra rất thông minh, học giỏi. Ông mặt mũi sáng sủa, trán cao, mắt sáng, khôi ngô. Sau này khi thấy ông đỗ Tiến sĩ vinh quy, cưỡi trên lưng ngựa bạch, thong thả đi trong đám rước, một nhà nho đã thốt lên :”Một vùng như thể cây quỳnh cành giao”(2).

     Khoa thi Hương năm Kỷ Mão niên hiệu Tự Đức 32(1879), Đặng Hữu Dương đỗ Cử nhân. Theo lời khuyên của vợ, ông vào Huế theo học ở Quốc Tử giám là trường lớn nhất nước thời đó, có nhiều sách vở rất thuận lợi cho học tập.

      Khoa ất Dậu 1885 Đặng Hữu Dương thi Hội trúng cách, đã truyền lô. Đến khi thi Đình, ông đã được chấm đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, nhưng vì kinh thành có biến nên chưa kịp truyền lô(3). Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường rước vua rời kinh thành để tổ chức việc kháng Pháp. Đến khoa Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái 1(1889) ông chỉ phải vào thi Đình và đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa này làng Hành Thiện còn có Nguyễn Ngọc Liên cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Đám rước của hai ông nghè Hành Thiện được tổ chức rất long trọng và là sự kiện hiếm có đáng tự hào của nhân dân Giao Thuỷ. Nhiều nhà khoa mục đã tặng câu đối mừng hai tân Tiến sĩ. Câu đối mừng của Cử nhân Nguyễn Bạt Tuỵ người làng Hạ Miêu cùng huyện như sau :

      Kỷ sửu, vi ngô huyện thịnh khoa, Hạ ấp tằng chiêm vân ngũ sắc;

     Hành Thiện, nãi Nam bang văn hiến, hoa cù khoáng kiến mã đề song.

     (Khoa Kỷ Sửu huyện ta thịnh đạt, ấp Hạ từng được xem  mây ngũ sắc;

    Đất Hành Thiện nước Nam văn hiến, đường hoa rộng rãi hai ngựa song song).

     Sau khi đỗ Tiến sĩ, Đặng Hữu Dương vinh quy một tháng thìđược bổ thực thụ Tri phủ Nam Sách (Hải Dương). Nguyên ông đã giữ chức quyền Tri phủ Nam Sách từ cuối năm 1888 theo Nghị định ngày 24 tháng 12 năm 1888 của quan Kinh lược Bắc Kỳ được Thống sứ Bắc Kỳ phê chuẩn. Trước đó ông đã làm Giáo thụ phủ Kiến Thuỵ.

      Nhận chức Tri phủ Nam Sách, ông giải quyết công việc hành chính, tư pháp rất mau lẹ, công bằng và có tiếng là liêm khiết. Tháng 4 năm 1890 ông được thăng án sát Hà Nội. Tỉnh Hà Nội thời kỳ này bao gồm thành Hà Nội (theo chỉ dụ ngày 3 tháng 10 năm 1888 vua Đồng Khánh ký nhượng cho quân Pháp) và các phủ, huyện của Hà Đông, Hà Nam. Các vụ án liên quan đến dân thành Hà Nội do Toà án Pháp xử. Các vụ án liên quan đến dân các phủ, huyện còn lại do quan án sát Đặng Hữu Dương chịu trách nhiệm.

      Đặng Hữu Dương luôn tỏ ra là người có trách nhiệm và cần mẫn với công việc được triều đình giao phó. Trước khi xử kiện, ông thường ăn chay, tắm gội bằng nước ngũ vị, đốt hương trầm cầu nguyện trời phật phù hộ cho ông đủ sáng suốt để không lầm lẫn. Ông không bao giờ tắc trách để người ngay bị oan. Ông khoan hồng, phạt nhẹ và khuyên nhủ cải tà quy chính đối với những bị can vì lầm lẫn mà phạm tội. Ông kiên quyết trừng phạt bọn côn đồ, bọn nhà giàu, bọn cậy quyền thế hà hiếp người khác. Trước khi tuyên án, bao giờ ông cũng nghiên cứu kỹ hồ sơ, đến tận nơi xảy ra vụ án mà quan sát, tìm hiểu kỹ lưỡng những uẩn khúc của sự việc và nguyện vọng của nhân dân, nhờ vậy mà những kết luận của ông thật công minh. Thường sau mỗi vụ án ông xử, cả bên bị và bên nguyên, bên thua kiện cũng như  bên thắng kiện, đều thoả mãn, khâm phục và ca ngợi quan án sát thật công minh, liêm khiết.

     Có lần, Tổng lý một xã ở huyện Từ Liêm được ông xử cho thắng kiện một xã lân cận trong vụ tranh chấp ruộng đất, đã đem vàng bạc tạ ơn. Ông dứt khoát từ chối và nói rõ ông chỉ làm theo bổn phận. Nhân dân xã này khẩn khoản xin ông nhận một cậu bé người làng đi theo hầu hạ ông. Cậu bé đó chính là ông Đặng Nguyên Roanh (tức Đồ Sơn), con nuôi của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương, sau này được ông nuôi dạy nên người.

     Ông nổi tiếng là vị quan công minh, thanh liêm, được nhân dân trong tỉnh sở tại vô cùng kính nể, yêu mến, tin tưởng. Con đường làm quan có điều kiện giúp dân, giúp nước được nhiều đang rộng mở thì bất hạnh xảy đến với ông. Giữ chức án sát Hà Nội được ba năm, ông bị bệnh đau mắt. Ông xin về quê chữa trị. Được hai tháng thì mắt ông mù hẳn. Từ năm 1893 đến khi mất, ông sống trong cảnh mù loà, kết thúc con đường khoa hoạn.

2 – Một tấm lòng nhân ái, yêu nước, thương dân

      Trong cuộc đời và trong thơ văn của mình, Tiến sĩ Đặng Hữu Dương đã thể hiện rõ tấm lòng yêu nước, thương dân. Đối với ông, yêu nước là yêu dân và những người ruột thịt của mình. Ông luôn mong muốn đem lại hạnh phúc cho mọi người dân, và thực tế ôngđã làm được điều đó qua các vụ xử án công minh khi còn làm quan.

      Lòng nhân ái của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương thể hiện sâu đậm, cảm động nhất trong tình yêu của ông đối với người vợ quá cố. Vợ ông là người cùng làng, đẹp người, đẹp nết, lại giỏi thơ văn. Bà chia sẻ với ông mọi nỗi buồn đau, hoà điệu tâm hồn với ông trong sinh hoạt thơ văn. Khi ông bị mù, bà nâng giấc, chăm sóc, động viên ông, không nề hà khổ cực. Được hy sinh cho chồng con là niềm hạnh phúc của bà. Sau hai năm chăm sóc chồng mù loà, năm 1895 bà ốm rồi mất, để lại cho Đặng Hữu Dương suốt những ngày tháng còn lại thương nhớ khôn nguôi. Từ khi vợ mất cho đến khi ông qua đời, suốt hai mươi tám năm ròng, ông vẫn giữ lòng chung thuỷ với bà. Nhiều người khuyên ông nên lấy vợ khác vì khi vợ mất, ông mới 36 tuổi, nhưng ông không chịu. Hằng đêm, ông ôm bọc quần áo của vợ và chìm vào nỗi đau thương nhớ. Những bài thơ khóc vợ của ông thật thống thiết, lâm ly, chung thuỷ:

Tang em nay đã đoạn rồi

Nhưng lòng ta vẫn suốt đời tang em.

      Sống thiếu bà, người bạn tri âm, ông cảm thấy cuộc đời thật giá lạnh :

Dưới đèn ẩn hiện mặt hoa

Dịu dàng giọng nói đậm đà thu ba

Lứa đôi hạnh phúc chan hoà

Cùng nhau sống giấc mơ hoa tuyệt vời

Thế mà nay âm dương cách trở đôi nơi

Tri âm vắng bóng cuộc đời giá băng.

                                                      ( Bài Khóc vợ )

     Thơ văn Đặng Hữu Dương, nhất là thơ viết về người vợ của ông đã trở nên nổi tiếng. Nhiều nhà khoa mục ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã tìm về Hành Thiện để được thưởng thức những áng thơ văn của nhà khoa bảng nổi tiếng.

     Những người con của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương được cha giáo dục chu đáo và khuyến khích tham gia các hoạt động yêu nước. Con cả ông là Đặng Hữu Bằng tham gia phong trào Đông Du, đã đỗ thủ khoa trường Đại học quân sự Chấn Vũ (Nhật) được Minh Trị Thiên hoàng tặng một đồng hồ bỏ túi có chữ ký của Thiên hoàng. Sau ông tham gia quân đội Trung Quốc và mất vì bom Nhật. Tiến sĩĐặng Hữu Dương có lần đã sai con rể là ông Khải mang tiền tiếp tế cho Đặng Hữu Bằng hoạt động cách mạng. Con thứ Đặng Hữu Dương là Đặng Hữu Đài làm Trợ tá phủ Ninh Giang, có tiếng liêm khiết, cũng bị Pháp bắt tù vì nghi ông tham gia phong trào Đông Du. Con nuôi Đặng Hữu Dương là Đặng Nguyên Roanh được cha hết lòng thương yêu, giáo dục đã trở thành ông Đồ Sơn làm nghề dạy học và rất giỏi nghề thuốc. Đặng Nguyên Roanh cũng tham gia phong trào Đông Du và từng bị Pháp bắt giam.

      Không chỉ khuyến khích, giúp đỡ con cái tham gia hoạt động yêu nước, Đặng Hữu Dương còn liên hệ với Nguyễn Thượng Hiền trong việc thực hiện đưa thanh niên Việt Nam ra nước ngoài và quyên góp tiền ủng hộ phong trào Đông Du.

      Đối với bà con trong làng, ông không bao giờ có lời nói, hành động làm mất lòng ai. Hàng xóm rất kính trọng và quý mến ông. Mỗi lần đi chợ sớm qua ngõ nhà cụ Nghè Dương, ai nấy nhắc nhau giữ im lặng để không làm  mất giấc ngủ của cụ Nghè.

      Có lần ông đồ Sơn kể chuyện cụ Tam nguyên Nguyễn Khuyến cho chữ “Đại hạ” (“Đại hạ” là “hè to”, đọc lái là “tò he”) chế diễu anh đội khố đỏ xuất thân là lính thổi kèn suốt ngày tò he, tò hét mà cũng lên mặt làm sang khi anh đến xin chữ cụ Tam nguyên nhân dịp  khánh thành nhà mới, làm anh xấu hổ phải bỏ làng ra đi. Đặng Hữu Dương cho rằng cụ Tam nguyên vô cớ gây khổ não cho người biết tằn tiện tiết kiệm và biết tôn trọng các vị đại khoa là không nên.

      Bùi Hướng Thành (người Hà Nam) đỗ Cử nhân thứ 78 cũng được Nguyễn Khuyến mừng câu đối chế diễu như sau :

Thánh thượng diệc lân tài, cống viện trì lai tam ngũ nhật;

Khuê trung ưng phá liễu, lang quân áp đắc kỷ hà nhân.

   (Nhà vua có ý thương tài, nên cho hoãn kỳ thi hương lại năm ba bữa ;

    Cô cử cười vỡ bụng, chồng mình đè được bao nhiêu người.)

     Nghe chuyện này, Đặng Hữu Dương bảo rằng Bùi Hướng Thành không làm điều gì lố lăng đáng bị chế diễu, hơn nữa đã đỗ Cử nhân dù là thứ 78 cũng là giỏi rồi, vì cứ 150 người thi mới có một người đỗ Cử nhân. Cụ Tam nguyên vì khoe tài chơi chữ mà chế diễu cử Bùi học dốt đỗ gần cuối bảng, làm đau lòng cử Bùi thì thật không phải.

      Cách nhìn nhận đánh giá sự việc của Tiến sĩ Đặng Hữu Dương chứng tỏ ông có tấm lòng nhân ái biết bao. 

          Trước cảnh quan lại Nam triều không có ý chí chống Pháp, lại chỉ lo cho cá nhân mình mà quên nỗi nhục mất nước, ông phê phán, cảnh tỉnh :

Chống giặc chưa đi toan lo rút,

Mặt vênh mà đến luỵ ông Tây.

Tổ tiên đã bỏ không thờ nữa,

Cơ nghiệp ngàn xưa cũng dễ bay.

                                 (Bài Thành phủ Xuân Trường)

      Đặng Hữu Dương là một tác giả Hán Nôm nổi tiếng có tài làm thơ văn hết sức mau lẹ mà vẫn đặc sắc. Khi làm Tri huyện Nam Sách, có lần ông đến thăm một vị quan cấp trên, gặp lúc vị này đang làm câu đối mừng bạn đồng liêu mà nghĩ mãi chưa ra. Vị này nhờ ông làm giúp. Ông hỏi về thân thế người bạn đồng liêu của quan trên và quan mừng nhân dịp gì, rồi phóng tay múa bút viết câu đối vào tấm vóc. Vị quan cấp trên thấy câu đối thật chỉnh, diễn tả tình bạn đậm đà, chữ viết lại đẹp như hoa thì vô cùng khâm phục ông.

      Những sáng tác thơ văn của ông thường không ghi lại thành tập nên ngày nay chỉ còn một số bài do con cháu ghi lại và lưu truyền trong dân gian. Về y học, ông có tập Nông gia tự liệu gồm trên sáu nghìn câu thơ lục bát ghi lại các vị thuốc và bài thuốc nam dân gian rất có giá trị.

      Tháng 5 năm 1923 Tiến sĩ Đặng Hữu Dương qua đời, thọ 64 tuổi. Trước khi nhắm mắt, ông vẫn còn áy náy vì mình chưa giúp được nhiều cho dân, cho nước như mong muốn. Trong bài biểu tạ ơn vua của ông sau khi đỗ Tiến sĩ có đoạn viết:

     …”Hạ thần chỉ biết lấy đạo thờ cha mẹ ra thờ vua, đem tấm lòng yêu thương con cái mà yêu thương dân chúng trong quản hạt cai trị của hạ thần để không hổ với các điều thánh hiền đã dạy, không hổ với bảng vàng bia đá” (4).

      Cả cuộc đời ông luôn luôn hành động theo tâm nguyện vì dân vì nước. Tên tuổi và sự nghiệp của ông được ghi lại không chỉ ở bảng vàng bia đá, mà còn sống mãi trong lòng nhân dân Nam Định.

                                                                              Nguồn Newvietart.com

………………………..

Chú thích : 

(1) Khi đi thi ông khai tăng ba tuổi nên có tài liệu chép ông sinh năm 1857.

(2) Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện / Đặng Hữu Thu. – Paris : 1992. –  Tr. 141.

(3) Sau khi Kiến Phúc chết, năm 1884 Ưng Lịch lên ngôi lấy hiệu là Hàm Nghi. Lễ đăng quang của Hàm Nghi không được Nam triều thông báo cho Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ biết nên Rê-na không thừa nhận vua mới. Tướng Đờ Cuốc – xy doạ sẽ đem quân bắt vua. Trước tình thế căng thẳng không thể trì hoãn được, Tôn Thất Thuyết tổ chức lực lượng tấn công đồn Mang Cá và đồn quân Pháp đóng ở gần toà Khâm sứ. Cuộc tấn công bị thất bại, Tôn Thất Thuyết phải hộ giá vua chạy ra Quảng Trị phát hịch Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến chống Pháp.

(4) Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện. – Sđd. – Tr. 161 – 162.

Tiến sĩ Phạm Thế Lịch

Tiến sĩ Phạm Thế Lịch

TRẦN MỸ GIỐNG

Phạm Thế Lịch (sau đổi là Phạm Thế Trung) hiệu là Trác Phong và Chỉ Trai, sinh ngày 3 – 10 năm Tân hợi (1791), mất năm Tự Đức 27 (1874) thọ 84 tuổi. Ông quê làng Quần Mông, huyện Giao Thuỷ, phủ Xuân Trường (nay là thôn Lạc Quần, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định).

Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo. Mẹ là Mai Thị Duyên, con gái hương trưởng Mai Công Kỳ cùng làng, làm ruộng. Cha là Phạm Đình Kham làm nghề thuốc chữa bệnh.

Ông thông minh từ nhỏ, năm 7 tuổi đi học, học đâu nhớ đấy, được người làng khen là thần đồng. Năm 14 tuổi ông đi dự khảo thí học trò ở xã Hà Nạn trong tổng hạt, đề ra bài phú “Nhật trung vi thị ” (Giữa ngày họp chợ), ông làm bài ngay, văn sĩ đều thán phục là tài.

Năm Gia Long thứ 6(1807) ông theo học Hương cống Nguyễn Hữu Bảo ở làng Hoài Bão, huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh). Khi cha mất, ông về chịu tang ba năm. Sau ông tìm học Tiến sĩ Lê Huy Du (người làng Bột Thượng, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá) là bậc đạo đức, văn chương có tiếng, mở trường ở xã Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Khoa Kỷ mão Gia Long 18(1819) ông đi thi. Quyển của ông trúng ưu hạng nhất nhưng lại bị đánh trượt vì “đài khoản viết không hợp cách”. Bố vợ ông thấy ông buồn rầu vì hỏng thi, khuyên ông nên bỏ thi cử, ra làm lý trưởng để có ruộng mà sinh sống. Ông cự tuyệt, thà chịu đói khổ, quyết không làm lý dịch. Khoa Tân Tỵ Minh Mệnh 2(1821) ông đi thi, lại hỏng. Ông quyết chí lên Thăng Long tìm thày học, dù không có tiền. Đến Thăng Long, ông tìm học thày Phạm Quý Thích (tức cụ Nghè Đốc học Hoa Đường). Để có tiền ăn học, ông phải vừa học vừa dạy trẻ. Được một năm thì ông phải bỏ học vì không có người thuê dạy trẻ nữa. Ông nhận về dạy con cái trong nhà quan Thái thú họ Lê người Trà Nam (Bình Định) để kiếm sống. Ngồi dạy học ở nhà quan Thái thú, ông vẫn không bỏ một kỳ bình văn nào ở Thăng Long. Dần dần tài học của ông đã nức tiếng Đông kinh.

Năm ấy ông về Nam Định, gặp Phan Bá Vành nổi dậy khởi nghĩa ở Trà Lũ. Phan Bá Vành rước ông làm tham mưu cho nghĩa quân, ông không theo. Nhưng từ khi tiếp xúc với Phan Bá Vành, ông không còn hào hứng với khoa cử nữa. Đến kỳ tỉnh hạch, ông không chịu nộp quyển. Anh ông là Phạm Đình Khương tiếc công em học hành vất vả bấy lâu, liền nộp quyển thay ông. Khoa Mậu Tý Minh Mệnh 9(1828) ông đỗ á nguyên. Đến khoa thi Hội năm Kỷ Sửu Minh Mệnh 10(1829) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, cùng khoa với Phạm Thế Hiển và Ngô Thế Vinh. Vua tặng ông vế đối :

“Thế Lịch, Thế Hiển, Thế Vinh tam Thế đồng khoa Vinh, Hiển Lịch.”

Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông được triệu vào kinh bổ làm Hành tẩu, rồi thăng Hàn lâm viện Biên tu, lĩnh Tri phủ Tư Nghĩa (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), trải bổ Viên ngoại lang bộ Lễ, chuyển Lang trung bộ Lại, thăng án sát, rồi Bố chính Bình Định.

Năm Minh Mệnh 17(1836) ông làm Tả thị lang bộ Lễ, sung Chánh sứ đi Trung Quốc. Do tên ông là Lịch phạm huý vua Tàu nên đổi lại là Phạm Thế Trung. Chuyến đi này có Nguyễn Đức Hợp và Nguyễn Văn Mô làm phó sứ cho ông. Khi tiếp xúc với triều đình nhà Thanh, vua Thanh hỏi gì ông đều ứng đối hợp lẽ. Vua Thanh đã tặng ông hai bộ triều phục.

Sau khi đi sứ về ông được đổi làm Tả thị lang bộ Hình, chuyển làm Phủ doãn Thừa Thiên. Hoàng Thái hậu lập đàn kỳ phúc, mở khảo thi hoà thượng, sai ông làm chánh chủ khảo.

Năm Thiệu Trị 1(1841) ông làm Biện lý bộ Hộ, đổi Bố chính sứ Hưng Hoá, rồi tiến Thự hữu Tham tri bộ Hộ, sau đổi sang bộ Lại. Ba năm làm quan ở Hưng Hoá, ông đem nghĩa lý hiểu bảo dần dần khai hoá cho dân, thổ hào trong tỉnh đều tin phục. Hồi đó có hơn bốn chục người Tàu tự tiện vào rừng Hưng Hoá chặt gỗ thiết, bị dân sở tại bắt nộp quan tỉnh. Tổng đốc Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang) là Nguyễn Công Hoán chiểu theo luật định khép vào tội chết. Ông can ngăn không nên giết họ vì họ không hiểu luật lệ của ta. Ông Hoán không nghe bèn gửi mật tấu về kinh. Phạm Thế Lịch cũng gửi mật tấu về kinh trình bày rõ sự việc theo quan điểm của mình. Ông Hoán nhận được chỉ của vua trước, cho trảm quyết bọn người khách. Phạm Thế Lịch cố can ngăn xin lui ngày trảm quyết để chờ chiếu chỉ của nhà vua. Quả nhiên hai ngày sau có chiếu chỉ của vua lệnh huỷ chiếu chỉ trước và tha cho bọn khách. Bọn người khách được tha mạng đã nhớ ơn xin danh hiệu của ông về thờ.

Năm Thiệu Trị thứ 5(1845) Phạm Thế Lịch làm Chánh sứ, Bạch Đông Ôn làm phó sứ đi sứ nhà Thanh. Sau khi đi sứ về, Phạm Thế Lịch được thăng làm Hộ bộ Hữu thị lang. Ông lại được cử làm Chánh chủ khảo trường thi Nghệ An.

Năm Đinh mùi Thiệu Trị 7(1847) vua sắp mất, đã truyền ngôi cho con thứ là Hồng Nhậm vì con lớn là Hoàng Bảo chỉ mải ăn chơi. Hoàng Bảo rất bất bình vì không được truyền ngôi. Phạm Thế Lịch đã khéo léo khuyên răn, giữ được mối hoà hảo giữa hai anh em vua mới. Tân hoàng khen rằng:”Ngươi khéo vì ta xử chỗ cốt nhục, nay được chu toàn, cũng nhờ có công ngươi “.

Nhân Phạm Văn Nhã và Phạm Võ Khải cãi nhau vì cho rằng văn mình hay hơn, bị vua bỏ ngục. Triều thần ghét Khải kiêu ngạo nên tâu vua xử tội. Phạm Thế Lịch can ngăn, nói rằng Khải vì quá chén mà lỡ bất tốn như thế, nên xin tha cho Khải. Vua nghe Phạm Thế Lịch mà tha cho Khải. Khải được tha rất biết ơn Phạm Thế Lịch.

Năm Tự Đức 1(1848) ông được thực thụ Hữu Tham tri bộ Lại, sung Kinh diên giảng quan, kiêm quản Hàn lâm viện. Năm đó ông lại được sung chức Khâm sai đại thần đi cùng với Đức Hoạt hội đồng tra xét vụ Tổng đốc Định – Biên Ngô Văn Giai và án sát sứ Nguyễn Ba tham hặc lẫn nhau. Cả hai đều vì việc riêng mà làm bậy. Phạm Thế Lịch cứ chiểu pháp luật mà xét định tâu lên vua. Giai và Ba đều bị cách chức. Vua khen Phạm Thế Lịch là thẳng thắn không kiêng nể người quyền quý.

Năm Tự Đức 2(1849) ông được cử làm giảng quan hàng ngày giảng sách cho vua nghe ở toà Kinh Diên.

          Năm Tự Đức 3(1850) ông được đổi bổ làm Tuần phủ Bắc Ninh, Hộ lý Tổng đốc Ninh – Thái. Ông có công cầm quân dẹp giặc cỏ Lê Vằn và Trịnh Hải ở Lạng Giang, bắt được Vằn giam vào ngục. Vằn vượt ngục bị bắt lại và bị chém. Khi đó quan lãnh binh không tuân pháp luật, bị Phạm Thế Lịch đánh đòn. Do mẫn cán trong công việc nên tháng 8 – 1850 ông được thưởng gia một cấp, thăng làm Tổng đốc.

           Tính ông vốn cương trực, gặp việc không phải là nói ngay, không kiêng huý kị nên nhiều đình thần ghét ông. Bấy giờ Vũ Đăng Dương đã 70 tuổi còn được bổ Tri phủ Thiên Phúc (nay là Phúc Yên). Khi yết kiến Phạm Thế Lịch, Vũ Đăng Dương không chịu vái lậy nên bị ông mắng là vô lễ. Vũ Đăng Dương đem bụng thù ghét Phạm Thế Lịch. Năm ấy mất mùa đói kém, Phạm Thế Lịch mở kho thóc phát cho dân nghèo. Nhân việc đó, Vũ Đăng Dương mật tấu về triều đình vu cho Phạm Thế Lịch là mạo tấu kém đói phát thóc cho dân để có ơn riêng với dân. Dương còn vu cho ông là đã bắt Dương phải về hưu khi còn đang khoẻ mạnh. Triều đình nghe lời gian thần đã cách chức Phạm Thế Lịch và bắt ông bồi thường số thóc đã phát cho dân.

            Năm Tự Đức 5(1852) Phạm Thế Lịch về quê, ngày ngày vui với thơ phú. Khi đó Trương Đăng Quế làm Phụ chính, trọng Phạm Thế Lịch là người có khí tiết, đã mời ông về kinh sung chức Kinh diên. Phạm Thế Lịch không chịu. Trương Đăng Quế lại cử ông làm Đốc học bản tỉnh, Phạm Thế Lịch cũng không nghe.

           Năm Tự Đức 27(1874) Phạm Thế Lịch mất, thọ 84 tuổi.

           Phạm Thế Lịch là người đỗ Tiến sĩ đầu tiên của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông cũng là bố vợ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng người Hành Thiện cùng huyện. Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, lớn lên là người có học thức, văn võ toàn tài, can đảm có tiếng. Ông có nhiều sáng tác nhưng hiện nay chỉ còn tập Sứ hoa quyển và một số câu đối do ông viết ở các đình, nhà thờ họ trong huyện…

                                                                    Nguồn Newvietart.com

TƯ TƯỞNG “DĨ ĐOẢN CHẾ TRƯỜNG” ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

TƯ TƯỞNG “DĨ ĐOẢN CHẾ TRƯỜNG”

ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM

TRẦN MỸ GIỐNG

           Vào thế kỷ XIII, trong 30 năm (1258 – 1288) quân dân nhà Trần đã ba lần đại thắng Nguyên Mông, viết lên trang sử vàng chói lọi của dân tộc. Vì sao và bằng cách nào mà nước Đại Việt nhỏ bé, quân ít, dân không đông, tiềm lực có hạn lại đánh thắng một đội quân xâm lược khổng lồ, hùng mạnh và tàn bạo nhất trong lịch sử, có trang bị mạnh, từng chinh phục đại bộ phận lục địa từ á sang Âu? Để lý giải triệt để điều này, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn tiếp tục phân tích ngày càng rõ ràng hơn. Một trong những lý giải cho điều đó là Đại Việt đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự “Dĩ đoản (binh), chế trường (trận)” mà Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã tổng kết.

           Năm 1300 Trần Quốc Tuấn ốm nặng, vua Trần tới thăm và hỏi ông về kế sách giữ nước. Trần Quốc Tuấn đã đúc kết kinh nghiệm trong suốt cuộc đời đánh giặc giữ nước của mình một cách súc tích:

- “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (1), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng được người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế.

Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước nhà góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tuỳ thời tạo thế, có được một đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. (2)

Trần Quốc Tuấn cũng từng dạy: “Phàm đánh trận thì đánh chỗ tĩnh yếu, lánh chỗ tĩnh mạnh; Đánh chỗ nhọc mệt, lánh chỗ nhàn rỗi; Đánh chỗ sợ lớn, lánh chỗ sợ nhỏ; Đó là đạo lý từ xưa nay vậy”… “Phàm hay lấy ít mà thắng nhiều, lấy yếu mà địch mạnh, lấy nhỏ mà chế lớn, thế mới gọi là thiện chiến”. (3)

Theo tinh thần câu nói trên của Trần Quốc Tuấn, ta có thể hiểu:

- Đại quân là quân lớn, quân đông, tức trường trận dùng để đánh những trận lớn.

- Đoản binh là quân nhỏ, quân ít dùng để đánh tập kích và phục kích.

Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của quân dân nhà Trần hồi thế kỷ XIII, ta có thể hiểu dĩ đoản chế trường là dùng lực lượng bộ binh nhỏ bé của Đại Việt để chế ngự kỵ binh hùng mạnh của quân Nguyên, bằng cách tránh cái mạnh của địch là tác chiến kỵ binh, công phá thành, đánh trên bộ… đồng thời lợi dụng và khoét sâu cái yếu của địch như thuỷ chiến, cướp lương, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng trên địa bàn nhiều sông ngòi lầy thụt mà không phát huy được thế mạnh để tiêu diệt chúng.

Tóm lại, thực chất của tư tưởng quân sự dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn là dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, dùng trang bị kém đánh đối phương có trang bị mạnh, phát huy mặt mạnh của ta, hạn chế mặt mạnh của địch để đánh thắng chúng.

Tư tưởng chỉ đạo tác chiến dĩ đoản chế trường được thực hiện trong suốt lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta và là một biểu hiện độc đáo của trường phái quân sự Việt Nam.

Nước ta đất không rộng, người không đông, tiềm lực dựng nước và giữ nước hạn chế, lại luôn luôn phải đối phó với sự xâm lăng của quốc gia phong kiến phương bắc lớn mạnh hơn hẳn. Muốn đứng vững, tồn tại và phát triển với tư cách là một nước độc lập tự chủ, không bị đồng hoá, không bị thôn tính và biến thành nước chư hầu của phong kiến phương Bắc, cộng đồng người Đại Việt phải đoàn kết chặt chẽ, lựa chọn kế sách, tìm ra nghệ thuật giành thắng lợi trước kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần. Dĩ đoản chế trường là một sáng tạo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành từ thời Đinh, Lý đến thời Trần, được Trần Quốc Tuấn tổng kết, khái quát, vận dụng và phát triển với chất lượng mới. Thực tiễn ba lần đại thắng Nguyên Mông là một điển hình cho sự vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn.

Trần Quốc Tuấn đã chỉ rõ, muốn đánh thắng giặc Nguyên, phải “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, phải đề cao tinh thần cố kết dân tộc, quân với dân một ý chí, tướng sĩ như cha con, toàn dân đánh giặc. Để thực hiện được tư tưởng dĩ đoản chế trường, lấy ít đánh nhiều, đòi hỏi quân đội phải tinh nhuệ, thiện chiến. Trong việc xây dựng quân đội, Trần Quốc Tuấn coi trọng chất lượng hơn số lượng. Ông từng nói: “Quân sĩ quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm được gì?” (4)

Chính Trần Quốc Tuấn đã rèn luyện tướng sĩ theo nguyên tắc “quân quý tinh bất quý đa”, nhờ vậy mà quân Trần đánh thắng quân Nguyên dù chúng đông hơn gấp nhiều lần. Trần Quốc Tuấn từng soạn Binh thư yếu lược và sưu tập binh pháp các nhà, làm thành Bát quái cửu cung đồ, đặt tên là Vạn Kiếp tông bí truyền thư đểtruyền dạy binh pháp và luyện tập tướng sĩ.(5)

Trước số lượng đông của đội quân xâm lược, Trần Quốc Tuấn không hề dao động. Ông chỉ rõ vai trò của người làm tướng và binh lính tinh nhuệ trong chiến đấu: “Kể ra, tướng là chí, ba quân là khí. Khí dễ động mà khó chế. Do tướng chế mà trấn tĩnh thì sợ hãi có thể định, phản trắc có thể yên, trăm vạn quân có thể tiêu diệt được. Chí ngay thẳng mà mưu có một, khí phấn khởi mà dũng gấp đôi thì thắng”. (6)

Rõ ràng, trong việc xây dựng quân đội, Trần Quốc Tuấn coi trọng yếu tố tinh thần, quân tinh nhuệ phải là đội quân có lòng yêu nước thiết tha, lòng căm thù giặc sâu sắc, phải biết biến lòng yêu nước thành hành động thiết thực. Ông đọc Hịch tướng sĩ kêu gọi mọi người “huấn luyện binh sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ; Có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai ”. Ông chỉ rõ lợi ích thiết thực của việc đánh giặc giữ nước, lên án những kẻ “lo làm giàu mà quên việc nước”. Ông đòi hỏi quân sĩ phải đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Ông nêu một tấm gương sáng về lòng trung thành với dân với nước, dẹp hiềm khích gia đình để chiến thắng quân xâm lược. Quân sĩ nhà Trần đã thích lên cánh tay hai chữ “Sát thát ” thể hiện quyết tâm không đội trời chung với giặc Nguyên.

Trong nghệ thuật dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn, vấn đề nổi bật là tránh cái mạnh của địch, lấy cái mạnh của ta để đánh cái yếu của địch.

Quân Nguyên Mông vốn quen với yên ngựa, cung tên từ khi năm, sáu tuổi, rất giỏi chiến đấu bằng kỵ binh, cơ động nhanh, mạnh về tiến công phá thành luỹ. Đội quân kỵ binh Nguyên Mông đã từng làm mưa làm gió từ á sang Âu mà không hề thất bại. Ba lần xâm lược Đại Việt, nhất là lần thứ hai và ba, chúng dùng đội quân viễn chinh thiện chiến đông gấp nhiều lần quân Trần. Đó là cái mạnh cơ bản của địch. Nhưng vào đất Việt, chúng gặp phải những khó khăn không dễ gì khắc phục được như đường xa mỏi mệt, vận chuyển lương khó khăn, thuỷ binh yếu kém, gặp địa hình núi sông ngang dọc nên kỵ binh không thể phát huy ưu thế như tác chiến trên thảo nguyên đồng cỏ. Đó là chỗ yếu cơ bản của địch.

Quân ta có đội tượng binh nhưng cơ động chậm, khó thắng được kỵ binh địch, ta phải dùng bộ binh đánh kỵ binh. Quân ta thông thạo địa hình, quen tác chiến trên sông và vùng ven biển, thuỷ quân của ta mạnh hơn thuỷ quân địch, huy động toàn dân đánh giặc với tinh thần cố kết dân tộc cao độ.

Tháng 12 – 1257 quân Trần đánh chặn quân Nguyên ở Bình Lệ. Mặc dù có đội tượng binh chiến đấu ngoan cường và đích thân vua Trần chỉ huy, nhưng không thắng nổi kỵ binh thiện chiến của giặc, quân Trần phải làm vườn không nhà trống, bỏ kinh thành Thăng Long, rút về vùng Thiên Mạc. Khi quân Nguyên lâm vào cảnh thiếu lương ăn, mất đi cái nhuệ khí ban đầu thì quân Trần phản công, thắng lớn trận Đông Bộ Đầu, đánh tan cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ nhất của quân Nguyên.

Tư tưởng lấy nhàn chờ nhọc, dĩ đoản chế trường của Trần Quốc Tuấn hẳn đã manh nha và hình thành từ cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất, để rồi được bổ sung và hoàn chỉnh trong lần kháng chiến sau, khi Trần Quốc Tuấn đã toàn quyền chỉ huy quân đội.

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn tổ chức phòng ngự có chiều sâu nhằm tiêu hao sinh lực địch và không để chúng đánh vu hồi, nếu có thể thì chặn đứng giặc tại biên giới. Đích thân Trần Quốc Tuấn chỉ huy đánh thắng trận đầu ở ải Nội Bàng, nhưng thế giặc hung hãn buộc quân ta phải lui về phòng tuyến Vạn Kiếp, Bình Than, Phả Lại. Tháng 2 – 1285 quân Nguyên tăng cường đội chiến thuyền lớn, tấn công quyết liệt. Quân ta chặn đánh gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng kéo dài tình trạng này sẽ không có lợi cho ta. Trần Quốc Tuấn quyết định thực hiện kế “thanh dã” rút khỏi Thăng Long, lui quân về vùng Thiên Trường để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công. Giặc chiếm được kinh thành rỗng không. Trần Quốc Tuấn đem 1000 chiến thuyền trở lại Vạn Kiếp đánh vào sau lưng địch, làm cho Thoát Hoan phải kinh hoàng vì “bị treo lơ lửng ở giữa”. (7)

Như vậy, từ phòng ngự chiến lược không thực hiện được, mau lẹ chuyển sang rút lui chiến lược một cách tài tình, Trần Quốc Tuấn đã thực hiện được điều ông suy nghĩ: “Vì là biết khó mà lui, lường thế không thể thắng được, bèn thu vén quân mà rút lui, hơn là tiến mà mất vậy ”. (8)

Tư tưởng này được thể hiện rõ rệt trong cuộc thoát hiểm tài tình vào tháng 3 – 1285, khi Trần Kiệm đầu hàng giặc ở Thanh Hoá, bỏ ngỏ phía Nam, làm cho quân Trần lâm vào tình thế hết sức nguy cấp là nằm giữa hai gọng kìm của địch. Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống Thiên Trường, Toa Đô từ phía nam tiến công Trường Yên. Quân ta bí mật rút lui qua cửa bể Giao Hải ra biển, làm cho giặc chưng hửng vì mất mục tiêu, không thi thố được sở trường và nhanh chóng rơi vào tình trạng quẫn bách vì thiếu lương ăn, vì ốm đau do không quen khí hậu.

Chỉ trong một tháng (từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 6 – 1285) quân ta phản công thắng lớn trong các trận A Lỗ, Giáng Khẩu, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, giải phóng Thăng Long, truy kích địch ra khỏi biển giới.

Tránh cái mạnh của địch, dùng cái mạnh của ta để đánh cái yếu của địch, buộc địch phải bị động theo ý định tác chiến của ta, nắm thời cơ khi địch quẫn bách để phản công giành toàn thắng. Đó là biểu hiện sáng tạo tư tưởng dĩ đoản, chế trường mà Trần Quốc Tuấn đã vận dụng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai. Tư tưởng này đã được Trần Quốc Tuấn đưa tới đỉnh cao của nghệ thuật quân sự đương thời.

Năm 1288 quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ ba với 50 vạn quân, ngoài bộ binh và kỵ binh còn có 500 chiến thuyền và một đoàn thuyền chở 70 vạn thạch lương. Trần Quốc Tuấn tự tin nhận định: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Lần kháng chiến này Trần Quốc Tuấn tổ chức trận địa phòng ngự tiêu hao địch nhưng đều để chúng đi qua, chủ động dụ chúng vào vòng vây thế trận của ta. Tháng 1 – 1288 Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở Vân Đồn, thọc một mũi dao vào tử huyệt của giặc, làm chúng không thể kéo dài cuộc chiến. Giặc vào Thăng Long nôn nóng tiêu diệt đối phương nhưng không tìm thấy dấu vết quân Trần, chúng buộc phải lui về Vạn Kiếp và tính kế rút quân. Từ thế chủ động tiến công, giặc lâm vào thế bị động lui quân và rơi vào trận địa quân Trần chờ sẵn. Quân thuỷ của giặc bị ta phá tan trong trận Bạch Đằng. Quân bộ của Thoát Hoan bị quân Trần cùng dân binh truy kích đánh cho tơi tả trên đường rút lui ra biên giới.

Với cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, Trần Quốc Tuấn đã chứng tỏ là một vị tướng lĩnh tài ba. Tư tưởng dĩ đoản chế trường mà ông có công tổng kết không chỉ là những tri thức quân sự thuần tuý, mà nó được bảo đảm chắc thắng dựa trên lĩnh vực chính trị “dân là gốc”, “toàn quốc đánh giặc”, “anh em hoà mục”, “tướng sĩ như cha con”.

             Tránh cái thế “hăng hái lúc ban mai” của địch, làm cho đội kỵ binh địch bị dàn mỏng trên địa hình sông ngòi chật hẹp, lầy thụt mà không phát huy được tác dụng; Dùng kế “thanh dã”, triệt lương của giặc, đẩy chúng vào cái thế “tàn lụi lúc buổi chiều”; Lợi dụng sở đoản, kiềm chế sở trường của địch; Phát huy sở trường của ta là quen đánh giặc ở vùng sông nước và ven biển, buộc địch phải bị động tác chiến theo ý đồ của ta. Đó là nguyên tắc nghệ thuật quân sự, phép dùng binh của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Cả hai lần kháng chiến chống Nguyên Mông mà Trần Quốc Tuấn nắm toàn quyền chỉ huy quân đội, ông đều lợi dụng được địa hình, khí hậu, thuỷ văn có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Hai cuộc rút lui chiến lược của quân Trần đều theo đường thuỷ làm cho kỵ binh địch trở nên bất lực. Các trận thắng quyết định của quân Trần thường là thuỷ chiến, ở vùng sông nước mà đỉnh cao là trận Bạch Đằng lịch sử.

          Tư tưởng “dĩ đoản (binh), chế trường (trận)” được Nguyễn Trãi phát triển trong kháng chiến chống Minh thắng lợi. Nhân dân ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng quân sự dĩ đoản, chế trường, phát triển chiến tranh du kích kết hợp với quân chủ lực, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, nâng tư tưởng quân sự này tới đỉnh cao mới trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ. Nghệ thuật dĩ đoản, chế trường là một sáng tạo sâu sắc của dân tộc ta dùng chống lại kẻ thù đông và trang bị mạnh hơn hẳn mà Trần Quốc Tuấn có công khái quát, tổng kết với chất lượng mới trong ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông toàn thắng, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

                                                                                                     Nguồn Newvietart.com
…………………………..

Chú thích:

(1) Thanh dã: Làm vườn không nhà trống, khiến quân xâm lược tới không có một nguồn hậu cần tại chỗ nào.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư. – BK5. – T9a
(3) Binh thư yếu lược. – H.: Khoa học xã hội, 1970.
(4) Đại Việt sử ký toàn thư. BK 5. T51b
(5) Đại Việt sử ký toàn thư. BK5. T14a
(6) Binh thư yếu lược. H.: Khoa học xã hội, 1970. Tr.56
(7) Nguyên sử. – Q.13. – T.8b
(8) Binh thư yếu lược. – H.: Khoa học xã hội, 1970. – Tr. 385

Trạng nguyên Đào Sư Tích – cuộc đời và giai thoại

Trạng nguyên Đào Sư Tích – cuộc đời và giai thoại 

TRẦN MỸ GIỐNG

      Đào Sư Tích sinh năm Canh dần (1350), mất năm Bính Tý (1396), quê làng Cổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định). Ông là người thứ hai đỗ Trạng nguyên trong số 5 Trạng nguyên của đất Nam Định văn hiến. Do thời gian đã lâu, các tài liệu lịch sử viết về ông hiện còn rất ít, lại sơ lược, nhưng công danh sự nghiệp của ông được dân gian truyền tụng khá nhiều. 

Đào Sư Tích xuất thân trong một dòng họ có truyền thống khoa bảng lâu đời. Ngay từ thời Trần Nhân Tông, họ Đào đã có Đào Dương Bật đỗ Thái học sinh, là bậc Khai quốc công thần nhà Trần, từng giữ chức Thượng thư bộ binh kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 1285 ông vâng lệnh triều đình về vùng đất Đông Trang thuộc lộ Trường Yên (nay là thôn Đông Trang, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) để chiêu dân lập ấp làm nơi cảnh giới cho căn cứ địa Trường Yên trong kháng chiến chống quân Nguyên.  Cha Đào Sư Tích là Đào Toàn Bân (có sách chép là Đào Toàn Mân, Đào Tuyền Phú, Đào Kim Bản, Lê Toàn Môn…) vốn người ở làng Song Khê, huyện Yên Dũng, hồi nhỏ đi học ở Cổ Lễ rồi lấy vợ và sinh sống ở đó. Ông đỗ Hương cống khoa Giáp Tý thời Trần, đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Dần (1362)  đời Trần Dụ Tông, làm quan tới Lễ bộ Thượng thư, Tri thẩm hình viện sự.  Ông là một nhà  giáo nổi tiếng về phương pháp dạy học, học trò có nhiều người thành đạt. Quốc tử giám Tư nghiệp Chu Văn An đã phải khen ông là “Đại sư vô nhị”.

      Đào Sư Tích là con thứ của Đào Toàn Bân. Vốn có tư chất thông minh, ham học, được người cha nổi tiếng dạy dỗ, Đào Sư Tích sớm bộc lộ tài thơ phú, lực học hơn hẳn các bạn cùng lứa tuổi, năm 7 tuổi đã nổi tiếng là Thần đồng. Hồi còn đi học, một lần Đào Sư Tích phải qua sông Hồng sang Thái Bình cắt thuốc chữa bệnh cho cha. Vì đò đông khách, Đào Sư Tích phải đợi chuyến sau. Trong lúc ngồi chờ đò, cảm xúc trước cảnh trời nước  mênh mang, Đào Sư Tích có làm mấy câu thơ:

Trời mênh mông
Nước mênh mông
Tôi phải chờ
Bởi đò đông.

      Bài thơ tuy đơn giản chỉ có mấy câu nhưng đã thể hiện rõ khung cảnh bến đò, phù hợp với tâm lý người chờ đò nên được nhiều người thuộc và lan truyền rất nhanh. Tình cờ, cô lái đò lại tên làĐông. Cô Đông là người có học, cũng võ vẽ biết làm thơ. Khi biết tên tác giả bài thơ “Chờ đò” là Tích, cô Đông liền gửi cho anh một bài thơ theo kiểu bài thơ của anh:

Đêm tĩnh mịch
Nhà tĩnh mịch
Tôi ngồi đọc
Truyện cổ tích.

      Bài thơ của cô Đông thật đơn giản mà rất lạ, có hàm ý, chữ cuối cùng của bài thơ cũng trùng với tên của tác giả bài thơ “Chờ đò”. Từ đó hai người trở nên thân thiết với nhau. Nhưng chẳng được bao lâu thì cô Đông bị gia đình ép gả cho một người dân chài ở Tiền Hải, còn Đào Sư Tích thì đỗ Trạng nguyên và đi làm quan ở triềuđình nên hai người không có dịp gặp lại nhau nữa. Mối tình từ bài thơ trên bến đò năm ấy còn vương vấn mãi hai người nhiều năm sau này(1).

      Một hôm quan Nhập nội hành khiển Đào Sư Tích nhận được một bức thư không đề tên người gửi, vẻn vẹn chỉ có hai câu:

Chức trọng quyền cao ngày nay đã thoả
Còn nhớ năm xưa ngồi đợi con đò?

      Sau nhiều năm làm quan, chịu bó tay trước những hiện tượng tiêu cực trong triều đình, Đào Sư Tích cảm thấy ngao ngán. Bức thư đã làm ông nhớ lại những kỷ niệm đẹp của mối tình tuổi học trò. Vào một đ êm trằn trọc không ngủ được, ông ngồi dậy cầm bút viết hai câu thơ:

Mười mấy năm trời quyền cao chức trọng
Không bằng một khắc trên chuyến đò xưa.

      Có lẽ sự kiện này không chỉ bộc lộ tài năng văn học của Đào Sư Tích mà còn là một tác động vào quyết định cáo quan của ông sau này.

      Truyền thống khoa bảng nổi tiếng của dòng họ Đào và của vùngđất Nam Chân hiếu học đã ảnh hưởng sâu sắc tới Đào Sư Tích. Ông đi thi với niềm tin tưởng và quyết tâm đỗ đạt danh vị cao. Tương truyền, khi ông đi thi Đình, vừa ra đầu ngõ thì gặp ngay một thiếu nữ. Ông tỏ vẻ không vui, xẵng giọng:

      – Ta đi thi mà gặp gái!

      Người thiếu nữ kia vốn thông minh, liền bảo:

      – Ông đi thi thì ông đỗ Tiến sĩ, việc gì đến chị em?

      Ông mắng luôn:

      – Tiến sĩ thì thấm tháp gì?

      Thiếu nữ tươi cười:

      – Không đỗ Tiến sĩ thì đỗ Trạng nguyên vậy, được chưa?

      – Thế thì được!

Khoa ấy ông đậu Trạng nguyên thật.

      Dù câu chuyện trên chỉ là tương truyền song cũng phần nào phản ánh được cái chí khí quyết đạt danh vị cao của Đào Sư Tích. Trong Nam thiên trân dị tập có lời bình về sự kiện này như sau:

      – “Gặp gái” là tiếng đùa. “Tiến sĩ thấm tháp gì?” lại là lời thật. Ông Cổ Lễ (chỉ Đào Sư Tích) đã cầm chắc hai chữ “Khôi nguyên” trong tay rồi, đâu phải đợi người khác nói ra mới nghiệm!

      Vốn có tư chất thông minh, ham học, có quyết tâm cao, lại được người thày nổi tiếng dạy dỗ, Đào Sư Tích đỗ cao là điều tất yếu.

      Khoa thi Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2(1374) đời Trần Duệ Tông, Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên. Đào Sư Tích và Bảng nhãn Lê Hiến Giản, Thám hoa Trần Đình Thâm là ba vị Tam khôi được vua ban yến và áo xếp, được dẫn đi chơi phố ba ngày, được phong quan chức theo thứ bậc khác nhau.  Các tài liệu đăng khoa lục đều nói Đào Sư Tích đỗ đầu từ thi Hương đến thi Hội, thi Đình vì thế nhiều người nghiên cứu sau này cho là ông đạt danh hiệu Tam nguyên. Thời Lý – Trần, thi Đình là giai đoạn cuối của thi Hội. Chỉ từ năm 1442 thi Đình mới thực sự được tách ra thành một kỳ thi độc lập. Do vậy, cũng chỉ từ năm này mới có danh hiệu Song nguyên (đỗ đầu hai kỳ thi Hội và thi Đình) và Tam nguyên. Cả nước chỉ có 7 người đạt danh hiệu Tam nguyên. Đào Sư Tích dù không phải là Tam nguyên nhưng vì từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ đầu nên dân gian vẫn thừa nhận ông là Tam nguyên. Điều đó chứng tỏ Đào Sư Tích là người có kiến thức uyên bác, đạo đức trong sáng, được nhân dân cảm phục và yêu mến.

      Một hiện tượng kỳ lạ hiếm có trong lịch sử khoa cử nước ta là trong khoa thi Giáp dần (1374), cả ba người học trò của cụ Đào Toàn Bân đều đỗ cao: Con trai cụ là Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, hai học trò của cụ là Lê Hiến Giản (tức Lê Hiến Phủ) đỗ Bảng nhãn, Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ (Thái học sinh). Cả bốn thày trò sau này đều làm quan đồng triều. Trong buổi lễ đăng khoa, biết Đào Toàn Bân đã dạy con và hai học trò đều đỗ đại khoa, vua Trần khen ông là “Phụ giáo tử đăng khoa” (Cha dạy con đỗ đạt) và tặng ông bốn chữ “Phụ tử đồng khoa” (Cha con cùng đỗ) kèm theo vế đối:

Phụ đăng khoa, tử đăng khoa, phụ tử kế đăng khoa chi nghiệp;

(Cha đỗ, con đỗ, cha con nối nhau làm nên sự nghiệp học vấn đỗ đạt)

Tân Trạng nguyên Đào Sư Tích liền xin phép vua và cha cho đối như sau:

Tổ tích đức, tôn tích đức, tổ tôn bồi tích đức chi cơ.

(Ông tích đức, cháu tích đức, ông cháu cùng vun trồng cơ nghiệp đức)

      Câu đối của Đào Sư Tích ca ngợi dòng họ nhà vua đức nghiệp cao, văn học lớn, các bậc vua ông, cha, con, cháu đều như thế. Câu đối cũng đồng thời ngầm tự hào về dòng họ Đào của tác giả có truyền thống khoa giáp vẻ vang. Tài ứng đối của Đào Sư Tích đã làm đẹp lòng vua Trần.

      Sau khi đỗ Trạng nguyên, Đào Sư Tích được bổ chức Lễ bộ thượng thư trông coi việc văn hoá, giáo dục của triều đình.  Đến tháng 5 năm Tân Dậu (1381) ông lại được thăng làm Nhập nội hành khiển kiêm Hữu ty lang trung. Nhập nội hành khiển là chức quan cao cấp trong triều đình thời Trần, chỉ đứng sau Tể tướng, nắm giữ các việc cơ mật của đất nước. Cùng năm này cha ông là Đào Toàn Bân cũng được thăng làm Tri thẩm hình viện sự, nắm giữ các việc thực thi pháp luật, “cầm cân nảy mực” xã hội.

      Nhiều năm liền Đào Sư Tích làm nhiệm vụ đi kinh lý các lộ miền biên giới phía bắc, lập được nhiều công trạng, được vua hết lòng khen ngợi. Năm Quý hợi (1383), Thượng hoàng Trần Nghệ Tông làm sách   Bảo Hoà điện dư bút    để dạy bảo quan gia, sai Đào Sư Tích làm bài đề tựa. Sự kiện này chứng tỏ Trần Nghệ Tông rất tin ở tài văn học và đức độ của Đào Sư Tích. Tiếc rằng bộ sách này ngày nay đã thất lạc.

      Đào Sư Tích làm quan trong thời kỳ nhà Trần suy thoái. Ba vị vua mà ông từng phụng sự là Trần Duệ Tông (1372 – 1377), Trần Phế Đế (1378 – 1388), Trần Thuận Tông (1388 – 1398) đều chỉ làm vì, thực quyền vẫn trong tay Thượng hoàng Trần Nghệ Tông. Nhưng Trần Nghệ Tông bản tính nhu nhược, chẳng giám tự quyết đoán việc gì, lại hết lòng tin dùng Hồ Quý Ly, giải quyết mọi việc thường nghe theo lời Hồ Quý Ly nên Hồ Quý Ly mới thực sự là người có vai trò quyết định mọi việc chính sự của triều đình. Từ năm 1371 triều đình nhà Trần nổi lên mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là các tôn thất quý tộc nhà Trần muốn duy trì vương triều của mình, với một bên là phái muốn cải cách đứng đầu là Hồ Quý Ly.Để củng cố địa vị và tạo vây cánh, Hồ Quý Ly tìm mọi cách đưa người tâm phúc và họ hàng của mình vào nắm giữ các cương vị chủ chốt trong triều đình, đồng thời tiêu diệt các phe đối lập. Tháng 2 năm Kỷ mùi (1379) Hồ Quý Ly lại được giao chức Tiểu tư không kiêm Hành khu mật đại sứ, được phép chọn cử quan viên không nhất thiết phải là tôn thất nhà Trần. Hồ Quý Ly đã lợi dụng dịp nàyđưa người của mình vào giữ các cương vị trọng trách như: lấy Nguyễn Đa Phương làm tướng quân, Phạm Cự Luận làm quyền Đô sự… Đối với các phe đối lập, Hồ Quý Ly ra tay triệt hạ: diệt Thái uý Trang Định Vương Ngạc (1391), Trần Nhật Chương (1392), Trần Nguyên Uyên, Trần Nguyên Dận (1395)… Trong khi đó vua Trần Duệ Tông là người có tài cầm quân, bản tính cứng cỏi nhưng quá tự kiêu, dẫn đến cái chết về tay Chế Bồng Nga khi đi đánh Chiêm Thành. Vua Trần Phế Đế là ông “Vua u mê, nhu nhược, không làm nổi việc gì, uy quyền ngày càng về tay kẻ dưới (chỉ Hồ Quý Ly), xã tắc lung lay, đến thân mình cũng không giữ được” (Đại Việt sử ký toàn thư, BK8, 1a). Năm 1388 mưu giết Hồ Quý Ly không thành, Trần Phế Đế bị Thượng hoàng Trần Nghệ Tông nghe theo lời Hồ Quý Ly đem thắt cổ cho chết.  Vua Trần Thuận Tông lên ngôi lúc mới 11 tuổi, Hồ Quý Ly liền gả con gái lớn của mình là Thánh Ngâu cho vua làm Hoàng hậu. Hồ Quý Ly làm Phụ chính Thái sư nắm mọi quyền hành trong triều đình.

      Giai đoạn Trần mạt, bọn quyền thần lợi dụng sự tối tăm của vua, tha hồ làm mưa làm gió trong triều, thẳng tay bóc lột ức hiếp dân chúng, gây ra một tình thế xã hội vô cùng quẫn bách. Trước hoàn cảnh bi đát này, những người có tâm huyết đều bất lực. Tư nghiệp Quốc tử giám Chu Văn An dâng Thất trảm sớ  để chấn chỉnh chính sự nhưng không được vua Trần chấp nhận đã phải từ quan về ở ẩn. Tháng 4 năm Nhâm thân (1392) Bùi Mộng Hoa dâng thư lên Thượng hoàng cảnh báo nguy cơ Hồ Quý Ly dòm ngó ngôi báu, Trần Nghệ Tông lại đưa thư cho Hồ Quý Ly xem, sau Bùi Mộng Hoa phải lẩn tránh. Đào Sư Tích là vị quan ngay thẳng, cương trực, luôn giữ chính nghĩa, không vào hùa với kẻ phản thần. Trong triều có một số người không ưa ông. Tháng 12 năm Nhâm thân (1392), Hồ Quý Ly viết sách  Minh đạo  (làm sáng tỏ đạo Nho) hạ thấp vai trò của Khổng Tử, đề cao Chu Công… Quốc tử trợ giáo Đoàn Xuân Lôi dâng thư nói Hồ Quý Ly bàn như vậy là không phải, liền bị đày đi châu gần. Đoàn Xuân Lôi nói Đào Sư Tích có xem thư của mình phê phán Hồ Quý Ly nên Đào Sư Tích cũng bị giáng làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự. Sau sự kiện đối đầu với Hồ Quý Ly này, có câu đối ca ngợi cha con Đào Sư Tích như sau:

Kim âu xã tắc quân thần nghĩa
Thạch mã sơn hà phụ tử danh.

(Nghĩa vua tôi bình vàng xã tắc
Tiếng cha con ngựa đá non sông)

      Chán ngán trước cảnh trong triều vua quan mưu hại lẫn nhau, bất mãn vì Hồ Quý Ly chuyên quyền, tiên đoán được nhà Trần sẽ mất về tay họ Hồ mà mình bất lực, Đào Sư Tích đã cáo quan về quê làm thuốc chữa bệnh và dạy học. Là một vị quan trông coi pháp luật, Đào Sư Tích luôn giữ mình trong sạch, khi về chỉ để lại cho con cháu một cái ao, vài sào ruộng và một mảnh đất làm nhà (Thần tích tổng Thần Lộ).  Đào Sư Tích từng là một đại quan hàng á tướng của triều đình mà liêm khiết như vậy, ngày nay vẫn còn là một tấm gương sáng.

      Về năm cáo quan của Đào Sư Tích, các tài liệu viết về ông đều không nói tới, hoặc có nói thì cũng chỉ viết chung chung là “Khoảng năm Quang Thái đời vua Trần Thuận Tông (1388- 1398) ông cáo quan về trí sĩ”. Theo Đại Việt sử ký toàn thư  thì Đào Sư Tích bị giáng làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự vào tháng 12 năm Nhâm thân (1392). Gia phả họ Đào –  Phạm –  Dương ở Cổ Lễ chép Đào Sư Tích mất ngày 4 tháng 9 năm Bính Tý (1396) thọ 47 tuổi. Trong thời gian từ 1393 đến 1396 ông còn phải đi sứ Trung Quốc (sau khi đã cáo quan). Vậy thời điểm cáo quan của ông rất có thể là vào năm 1393, tức là ngay sau khi bị giáng chức, lúc mà tâm trạng bất mãn của ông đã bị đẩy tới đỉnh cao.

      Đào Sư Tích cáo quan về quê nhưng ông không an phận làm một xử sĩ. Ông bí mật lên vùng Lý Hải, huyện Tam Đảo (nay thuộc xã Phú Xuân, huyện Tam Đảo) với mục đích quy tụ nhân tài, nuôi chí lớn chấn hưng đất nước. Tại đây ông đã viết bộ Sách lược phục hưng Đại Việt cuối thời Trần. Bộ sách này ngày nay đã mất nên không rõ tư tưởng phục hưng canh tân đất nước của ông cụ thể thế nào. Con cháu họ Đào chỉ còn lưu truyền được câu cuối cùng trong bộ sách này là: “Việc lớn mà thành, ta sẽ tâu với trăm họ dời đô về Tam Đảo”. Nhưng ông chưa đủ thời gian để thực hiện chủ trương phục hưng đất nước thì đã phải phụng mệnh triều đình đi sứ Trung Quốc.

      Thời gian này, nhà Minh tăng cường sức ép với vua Trần nhằm tạo cớ thực hiện âm mưu xâm chiếm Đại Việt. Chúng liên tiếp đưa các yêu sách ngày càng nặng nề đối với nước ta :

      – Tháng 9 năm Giáp Tý (1384) chúng đòi ta phải nộp lương thực cung cấp cho quân Minh đóng ở Lâm An (Vân Nam, Trung Quốc).

      – Tháng 3 năm ất sửu (1385) chúng đòi ta nộp 20 tăng nhân (nhà sư).

      – Tháng 2 năm Bính dần (1386) chúng đòi ta nộp những loài câyăn quả quý, lại đòi cấp cho chúng 50 con voi và cho chúng mượn đường đi đánh Chiêm Thành.

      – Tháng 6 năm ất hợi (1395) quân Minh đánh các man làm phản ở Long Châu và Phụng Nghĩa (Quảng Tây, Trung Quốc), đòi ta phải cấp cho chúng 5 vạn quân, 50 thớt voi, 50 vạn thạch lương… Ta chỉ nộp một ít gạo, chúng lại đòi ta phải nộp tăng nhân, thanh niên bị thiến, phụ nữ xoa bóp…

      Trước tình thế đó, vua Trần rất cần người tài giỏi, có đủ khả năng xoay chuyển tình thế đi sứ để thực hiện chủ trương hoà hoãn. Trong triều có người nói chỉ có Đào Sư Tích mới có đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ này. Mặc dù không ưa gì Đào Sư Tích, Hồ Quý Ly vẫn phải xin vua Trần giao cho ông nhiệm vụ đi sứ. Khi Hồ Quý Ly về Cổ Lễ để triệu Đào Sư Tích vào triều thì ông đã ở Tam Đảo. Tưởng ông bỏ trốn, Hồ Quý Ly ra lệnh nếu Đào Sư Tích không hồi triều đi sứ thì sẽ bị chu di tam tộc. Đề phòng họ Đào sau này bị Hồ Quý Ly tàn sát, Đào Sư Tích đã cho con cháu đổi ra họ Phạm và hồi triều nhận trách nhiệm đi sứ nhà Minh. Sau này con cháu ông lại có người đổi thành họ Dương, do đó từ đường họ Đào ở Cổ Lễ hiện nay có bức đại tự ghi là  Đào –  Phạm –  Dương.

      Đào Sư Tích đã đi sứ nhà Minh vì quyền lợi của trăm họ, vì yêu cầu của đất nước. Bằng tài năng hơn người, ông đã thuyết phụcđược vua Minh giảm nhẹ yêu sách, đặc biệt đã bãi bỏ việc đòi cống nạp tăng nhân, kéo dài thời gian hoà hoãn cho Đại Việt. Tương truyền, thời đó nhà Minh cho người vơ vét sách thuốc bằng chữ  Nôm của nước ta, đem về nước xếp cao đến nóc nhà, nhưng không có ai đọc thạo. Nhân có Đào Sư Tích sang sứ, vua Minh nhờ ông đọc và tóm tắt giúp để Lý Sỹ Tài ghi lại bằng chữ Hán thành bộ Y tông tất đọc, ông chỉ đọc trong ít ngày là hết kho sách. Vua Minh vô cùng kinh ngạc và khâm phục, đã tặng ông bốn chữ Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai nước). Hiện bốn chữ này cònđược khắc trong lăng Trạng nguyên Đào Sư Tích ở Cổ Lễ.

      Việc đi sứ của Đào Sư Tích không thấy ghi trong lịch sử. Do thời gian đã quá lâu, việc biên soạn lịch sử có nhiều sự kiện bị bỏ sót là điều dễ hiểu. Nhiều tài liệu của những tác gia nghiên cứu vềĐào Sư Tích hiện nay đều thừa nhận việc đi sứ cuả ông nhưng không nói rõ là ông đi sứ vào thời gian nào. Lý lịch di tích lịch sử văn hoá nhà thờ Trạng nguyên Đào Sư Tích của Bảo tàng Nam Hà chép rằng:

      – “Theo truyền thuyết và tư liệu lịch sử thì khi ông mất tại đất Trung Quốc có 23 người, ngựa của nhà Minh đã hộ tống thi hài Trạng nguyên Đào Sư Tích về an táng tại quê hương xứ Hạ Đồng (Cổ Lễ) theo lời di chúc của ông…”

      Nếu đúng như vậy thì Đào Sư Tích đi sứ nhà Minh vào năm 1395 – 1396 và mất trong khi đi sứ ở Trung Quốc chăng? Có một ý kiến khác cho biết Đào Sư Tích mất tại quê (Thời Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà, Sở Văn hoá và Thông tin Nam Hà xuất bản 1996, trang 119). Tuy nhiên, về cái chết của Đào Sư Tích, trong dân gian còn lưu truyền một giai thoại như sau:

           Thời hạn đi sứ của Đào Sư Tích sắp hết, vua Minh hỏi rằng:

          – Nếu Bắc (chỉ Trung Quốc) đánh Nam (chỉ Đại Việt) thì ai thắng?

     Đào Sư Tích trả lời bằng hai câu thơ:

- Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng
Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.

     Nghe câu trả lời của sứ thần Đại Việt, các quan võ nhà Minh cười vang khoái trá. Nhưng vua Minh lại không thể cười được vì hiểu ý câu trả lời của Đào Sư Tích. Trong câu trả lời có 5 chữ thắng, 5 chữ thua, nghĩa là đánh Đại Việt thì chưa chắc đã thắng đâu, chi bằng hoà là hơn. Câu trả lời của Đào Sư Tích không làm phật lòng vua Minh mà lại duy trì được mục đích kéo dài thời gian hoà hoãn cho Đại Việt. 

      Vua Minh lại hỏi:

    – Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng dân ly tán, tại sao ta không thắng?

      Đào Sư Tích trả lời cũng bằng hai câu thơ:

- Trần thực, Hồ hư, hư hư thực
Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư 

(Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư là hư thực
Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư)

      Vua Minh biết Đào Sư Tích là người tài giỏi, không thể khuất phục được bèn nghĩ cách giết đi. Vua Minh sai một quan đại thần tiễn Đào Sư Tích về nơi nghỉ và đưa cho vị này 4 phong thư, dặn mở theo thứ tự như thế như thế… Khi mở phong thư thứ nhất thấy có dòng chữ: Thượng văn vấn, hạ tri vương.

      Vị đại thần nhà Minh không hiểu ra làm sao. Đào Sư Tích liền bảo:

     – Vua Minh quá khen, cho ta là bậc thánh hiền. Ta đâu giám nhận lời khen đó.

      Và ông giải thích cho vị đại thần nhà Minh rõ:

     – Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ. Vấn là hỏi, hỏi là mồm, mồm là khẩu. Bên dưới có chữ vương. Hợp ba chữ: nhĩ, khẩu, vươngthành chữ thánh. Vua Minh có ý bảo ta là thánh nhân đó mà.

      Trong phong thư thứ hai có câu trả lời cho phong thư thứ nhất. Câu trả lời của Đào Sư Tích hoàn toàn đúng với đáp án trong phong thư thứ hai.

      Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm Lưỡng quốc Trạng nguyên.

      Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:

               Hậu hoạ

                    Nhất dược nhị đao

      Vị đại thần hiểu rằng vua Minh lệnh cho ông phải giết Đào Sư Tích nên ông rất hoang mang, buồn bã. Đào Sư Tích bình thản đón nhận cái chết, vì ông đã đoán biết trước việc này. Ông an ủi vị đại thần nọ:

      – Thánh thì thoát tục. Ông chẳng nên quá buồn rầu. Chỉ xin chođược chết bằng thuốc độc để ông khỏi phải khổ tâm khi phải trực tiếp giết ta.

      Trước khi uống thuốc độc, ông dặn dò người nhà đi theo rằng:

     – Sau khi ta chết hãy đưa thi hài về chôn ở xứ Hạ Đồng (Cổ Lễ quê ông). ở chỗ giáp ranh ba thôn Đông (Đông Trung nay thuộc Trung Lao, Đông Thượng nay thuộc Đông Thượng, Đông Hạ nay thuộc Trực Đông) có một ngôi mộ, hãy trồng một cây đa ở ngôi mộ đó cho ta.

     Ngôi mộ đó chính là mộ bà Lê Thị Đông, người bạn thân thiết thời thơ ấu của Đào quan trạng.

     Sau khi Đào Sư Tích mất, Vua Minh đã cho đưa thi hài ông về quê theo lời di chúc của ông. Dân gian còn lưu truyền câu: “Nhị thập tam kỵ mã Ngô Minh quân hồi hương linh cữu Lưỡng quốc Trạng nguyên”.

          Trong di cảo của Trạng nguyên Đào Sư Tích cũng nói rõ việcđi sứ nhà Minh và nhiều khả năng ông mất trên đường về. Bài  Bắc khứ (Đi lên phương Bắc) và bài Dữ tiểu thiếp Giang thị (Nói với tiểu thiếp là Giang thị) ghi lại việc ông đi sứ, dọc đường lấy cô gái miền núi làm thiếp, phần chú thích của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị nói rõ Đào Sư Tích đi sứ là do bị Hồ Quý Ly bắt buộc. Hồ Quý Ly còn làm thơ tiễn Đào trạng nguyên. Rồi bài Hồi thời bệnh ngộ đại vũ (Lúc trở về, đang bị bệnh gặp mưa lớn) gợi cho chúng tôi nhận định: Trạng vốn sức khoẻ kém, bệnh nặng, trên đường đi đầy gian khổ, có thể Trạng đã mất trên đường đi sứ về chăng. 

      Trạng nguyên Đào Sư Tích là người tiêu biểu nhất trong truyền thống khoa bảng của họ Đào ở Cổ Lễ (Nam Định), Song Khê (Bắc Giang) và Đông Trang (Ninh Bình). Truyền thống đó được hậu duệ của ông nối tiếp không ngừng. Đào Thục Viên đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm tuất (1502) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến Hàn lâm. Dương Bật Trạc đỗ Tiến sĩ khoa ất mùi (1715) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến Hiến sát sứ. Bật Trạc nguyên trước họ Đào, đến đời ông mới đổi ra họ Dương. Điều đáng chú ý là từ Đào Toàn Bân, Đào Sư Tích đến Dương Bật Trạc đều từng là các vị quan trông coi pháp luật. Chắc chắn họ phải là những người ngoài tài năng còn phải có đạo đức trong sáng mới được giao những nhiệm vụ “cầm cân nảy mực” giữ gìn phép nước này.

      Sinh thời Đào Sư Tích nổi tiếng về văn học. Cha con ông được coi là những người khơi dòng văn học của họ Đào. Câu đối ở nhà thờ họ Đào –  Phạm – Dương Cổ Lễ còn ghi rõ:

Đào tộc Song Khê khai học hải
Dương danh Cổ Lễ khởi văn giai.

(Họ Đào ở Song Khê mở ra biển học
Tiếng Dương ở Cổ Lễ xây dựng nền văn).

      Những sáng tác của ông hầu hết đã bị thất lạc. Thời kỳ giặc Minh đô hộ nước ta, chúng đã thực hiện chính sách đốt sách vở của Đại Việt. Số phận những sáng tác của Đào Sư Tích không nằm ngoài sự huỷ diệt này. Một số tác phẩm của ông mà ngày nay chúng ta được biết là: Sách lược phục hưng Đại Việt cuối thời Trần (đã mất), Bài tựa sách Bảo Hoà điện dư bút (đã mất), Văn sách thi Đình (chép trong Lịch triều đình đối sách văn), Mộng ký (chép trong Công dư tiệp ký), Cảnh tinh phú (chép trong Quần hiền phú tập), nhiều thơ chép trong một số sách của các tác giả đời sau…  

Hiện tôi cùng dịch giả Dương Văn Vượng và nhà nghiên cứu văn học Đồng Ngọc Hoa đã sưu tầm và dịch năm chục bài thơ của Trạng nguyên Đào Sư Tích chép rải rác trong nhiều thư tịch cổ, biên soạn thành cuốn Trạng nguyên Đào Sư Tích đời và thơ văn xuất bản năm 2010.  Qua thơ văn của Đào Sư Tích, bạn đọc hiểu thêm về tâm tư tình cảm, những suy nghĩ và hoàn cảnh sống của ông.

      Mặc dù những sáng tác của Đào Sư Tích hiện còn không nhiều, nhưng chỉ một bài Cảnh tinh phú  nổi tiếng đã đủ đưa ông vào hàng những tác gia văn học Việt Nam tiêu biểu thế kỷ 14. Tô Thế Huy khi bàn về thể phú thời Trần về sau đã đánh giá Đào Sư Tích rất cao: “Đào Sư Tích khơi dòng, Lý Chuyết Am, Nguyễn Cúc Pha, Nguyễn ức Trai giúp cho lớp sóng thêm mạnh. Hùng văn trong thiên hạ không gì lớn hơn được” (Tựa Quần hiền phú tập).

      Cảnh tinh phú là một trong số hiếm hoi những bài phú thời Trần còn lại, là tư liệu quý cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học nước nhà.

      Sự nghiệp văn chương và cuộc đời vì nước vì dân của nhân cách lớn Đào Sư Tích còn sống mãi trong lòng nhân dân. Sau khi mất, ông được phong làm phúc thần và được nhiều nơi lập đền thờ như ở Cổ Lễ (Nam Định), Đông Trang (Ninh Bình), Song Khê (Bắc Giang), Lý Hải (Tam Đảo)… Sự nghiệp khoa giáp của ông được lưu danh muôn thuở như câu đối ở Lăng quan Trạng:

Cổ Lễ miếu đường lưu vạn đại
Trần triều khoa giáp đệ nhất môn.

(Miếu thờ Cổ Lễ còn muôn thở
Khoa giáp triều Trần mấy kẻ hơn).

      Đúng như vậy, cuộc đời và sự nghiệp của Trạng nguyên Đào Sư Tích đã đi vào tâm thức dân gian, trong các câu ca dao và hát ru của nhân dân. Vùng Trực Ninh (Nam Định) còn lưu truyền bài Lời ru của mẹ ca ngợi ông như sau:

Trăm năm bia đá thì mòn,
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.
Kim ngôn có tự bao giờ
Trạng nguyên Sư Tích bấy giờ Duệ Tông
Bảy tuổi đắc phong thần đồng,
Hữu tài thành chủ hàm công rõ rành.
Thi Hương, thi Hội, thi Đình,
Đứng đầu Đại Việt, anh minh sáng ngời.
Bảo Hoà dư bút vua tôi,
Viết lên sử sách như lời núi sông.
Nhập nội Hành khiển Tướng công
Thượng thư Lễ bộ một lòng sắt son.
Nhà Minh bỏ lệ tăng nhân,
Y tông tất đọc muôn năm tôn thờ.
Lý Hải chí lớn bấy giờ
Viết lên kế sách cơ đồ nước non.
Một đời trung hiếu sắt son
Làm lành để phúc cháu con cậy nhờ.
Ơn người viết mấy vần thơ
Muôn đời con cháu phụng thờ Trạng nguyên.
Cầu mong đất tổ Nam Chân
Cháu con lớp lớp muôn phần nở hoa…

     Những nơi Trạng nguyên Đào Sư Tích đi qua còn lưu truyền câu ca dao :

Cha con lập ấp mở mang
Quán ở Nam Định, quê làng Song Khê.

     Vùng Tam Đảo cũng có bài thơ dân gian truyền tụng về họ Đào:

Hai Đào mở đất khơi nguồn
Văn chương pháp luật tuôn tràn mấy nơi.
Bảo Hoà lời tựu truyền đời
Phú cảnh tinh cũng sáng ngời hùng văn
Và lời Mộng ký băn khoăn
Song Khê, Cổ Lễ muôn năm nhớ người.
Lý Hải mến đức đời đời
Hoa Đào muôn cánh đỏ trời mùa xuân…

Như trên đã nói, các tài liệu lịch sử hiện còn viết về Trạng nguyên Đào Sư Tích rất ít và sơ lược, nên nghiên cứu về ông phần nhiều phải căn cứ vào dân gian. Những giai thoại về Đào Sư Tích do dân gian sáng tạo ra trên cơ sở sự thật lịch sử, có cái đúng sự thật, có cái do nhân dân hư cấu nên. Nhưng dù là do dân gian hư cấu thì những giai thoại vẫn mang trong mình nó cái lõi lịch sử. Những giai thoại về Đào Sư Tích là hình thức thể hiện, gửi gắm tình cảm, ước vọng của nhân dân đối với ông. Qua các giai thoại ta hiểu về nhân cách Trạng nguyên Đào Sư Tích thêm sáng tỏ.  

—————————————

(1) Về sự kiện mối tình từ bài thơ “Chờ đò” của Đào Sư Tích, dân gian còn lưu truyền một thuyết khác. Theo thuyết này thì cô Đông không phải là người mà tình cờ Đào Sư Tích quen sau khi làm bài thơ “Chờ đò”, mà chính là em của hai người bạn học thân thiết của Đào Sư Tích là Lê Hiến Giản và Lê Hiến Tứ. Đông và Tích yêu nhau từ nhỏ nhưng không được hai bên cha mẹ đồng tình mà trái lại còn kiên quyết ngăn cấm. Cha mẹ cô Đông là ông Tô Hiến Chương và bà Lê Thị Nga. Ông bà lấy nhau mãi vẫn không có con. Bà Lê Thị Nga liền bí mật đi lại với người bạn thân của chồng mình là Đào Toàn Bân (cha của Đào Sư Tích ) và sinh ra Giản, Tứ và Đông. Đông và Tích không biết rằng họ là hai anh em cùng cha khác mẹ nên đã vô tình yêu nhau. Bị cha mẹ ngăn cấm không lấy được Đào Sư Tích, cô Đông quẫn trí nhảy xuống sông tự vẫn. Nơi cô tự vẫn ngày nay còn cây cầu dân gian gọi là cầu Vô Tình.

                                                                             Nguồn Newvietart.com

TƯ TƯƠNG TÌNH CẢM KHIẾU NĂNG TĨNH QUA THƠ ÔNG

Tư tưởng tình cảm Khiếu Năng Tĩnh

qua thơ ông

TRẦN MỸ GIỐNG   –    TRỊNH THỊ NGA

Khiếu Năng Tĩnh (1835 – 1920) quê xã Chân Mỹ, huyện Đại An nay là thôn Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, Khiếu Năng Tĩnh rất chăm chỉ học tập và sớm bộc lộ trí thông minh, học giỏi. Khoa Mậu Dần (1878), ông đỗ Cử nhân. Khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức 33(1880) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Khoa này ông đỗ Hội nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hội). Ông làm quan trải các chức Đốc học Nam Định, Đốc học Hà Nội, thăng Quốc tử giám Tế tửu.

    Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh là một học giả uyên thâm, nhà văn, nhà giáo nổi tiếng, tác gia Hán – Nôm tiêu biểu thời cận đại. Sách địa phương chí của ông hiện còn đến nay là những tài liệu rất có giá trị đối với bạn đọc nói chung và các nhà dân tộc học, nhà địa phương học, nhà nghiên cứu lịch sử  nói riêng như Đại An bản mạt khảo, Đại An huyện chí, Hà Nội tỉnh chí,  Quốc đô cổ kim chí, Thăng Long chư thần ký, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, Tiên phả dịch lục…

Là một nhà giáo nổi tiếng, chắc hẳn Khiếu Năng Tĩnh có viết sách giáo khoa. Trong bài Ngôn chí ông đ ã nói rõ việc ông mở trường dạy học trò con nhà nghèo, có viết sách giáo khoa:

或 将 設 帳 助 貧 家
無 學 安 能 别 正 邪
始 著 化 兒 初 集 韻
再 成 訓 長 一 詩 

Hoặc tương thiết trướng trợ bần gia
Vô học an năng biệt chính tà
Thuỷ trước “Hoá nhi sơ tập” vận
Tái thành “Huấn trưởng nhất thi” ca

(Nghĩ nên mở trường dạy học để giúp người nghèo
Nếu không học thì sao phân biệt được lẽ hay điều dở
Lúc đầu viết quyển Hoá nhi sơ tập
Rồi lại chế sách Huấn trưởng nhất thi)

Nhưng rất tiếc là hiện chúng tôi chưa sưu tầm được tác phẩm nào của ông về lĩnh vực này.

Riêng về thơ,  ông có các tập Cố hương vịnh tập, Cổ thụ cách vịnh. Ngoài ra  ông còn Hoài lai thi tập tuyển thơ  của nhiều tác giả khác…

Hầu hết các tác phẩm của Khiếu Năng Tĩnh tản mát trong dân gian, được nhân dân lưu truyền khá phổ biến, được trích dẫn trong nhiều tác phẩm của các tác gia đương thời. Nhà nghiên cứu Hán – Nôm Dương Văn Vượng, nguyên chuyên viên Bảo tàng tỉnh Nam Định đã nhiều năm sưu tầm, dịch một số tác phẩm của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, góp phần lưu giữ và phục vụ bạn đọc di sản quý của quan Nghè. Tác giả Trịnh Thị Nga và Dương Văn Vượng đã thu thập trong các thư tịch, trong dân gian được hơn trăm bài thơ của Khiếu Năng Tĩnh, tuyển dịch, in 53  bài…

Thơ Khiếu Năng Tĩnh thể hiện cốt cách nhà giáo, tâm hồn cao đẹp, tấm lòng vì nước vì dân, những tâm sự vui buồn và tài năng tinh tế của ông. Ba chủ đề tập trung trong thơ Khiếu Năng Tĩnh là vịnh cảnh thiên nhiên, di tích và nhân vật lịch sử, thế sự. Âm hưởng thơ ông là tình cảm yêu nước thương dân thiết tha, xót xa và bất bình trước thời cuộc đảo điên, buồn đau vì tự thấy mình không làmđược nhiều cho dân cho nước.

Sinh thời, ông rất thích tập Cổ thụ cách của Đông Sơn Lão Phố. Trong cuốn này có vẽ 36 thế cây cảnh, mỗi thế kèm hai câu thơ tổng vịnh. Khiếu Năng Tĩnh đã làm 36 bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán, mỗi thế một bài để thể hiện rõ tính chất của tranh vẽ trong Cổ thụ cách, gọi là Cổ thụ cách vịnh. Ông gửi gắm vào các bài tứ tuyệt những tình cảm, suy tư, tâm sự và thể hiện nhân sinh quan của mình.

Cũng như nhiều nhà nho đương thời, Khiếu Năng Tĩnh mong muốn những người đứng đầu trong bộ máy nhà nước phải là những người có tài có đức, vua phải sáng, tôi phải hiền. Có như thế mới có thể giành lại và giữ được nền độc lập tự chủ. Ông khuyên các quân thần:

君 須 知 敬 在 心 中
臣 早 當 思 一 世 恭

Quân tu tri kính tại tâm trung
Thần tảo đương tư nhất thế cung
(Quân minh thần lương cách)
Vua nên giữ đạo kính tin
Tôi nên sớm nghĩ một niềm cúc cung.

Trong việc dạy học trò, cũng như trong xử thế ở đời, ông quan niệm mọi việc muốn thành công thì phải dựa vào chính mình, không thể trông chờ vào người khác. Muốn giành lại non sông, xây dựng đất nước thì phải tự mình tiến hành, chứ không thể trông chờ vào nước ngoài. Trong bài Ký Nguyễn đại nhân, một người bạn là Tổngđốc, ông nói rõ: 

今 若 倚 人 尋 活 計
有 梯 他 日 首 安 翹

Kim nhược ỷ nhân tầm hoạt kế
Hữu thê tha nhật thủ an kiều

(Nếu cứ tựa người tìm kế sống
Nhờ thang, sao ngẩng nổi đầu lên)

Bản thân Khiếu Năng Tĩnh từng cùng Phạm Thận Duật dự hội nghị các quan đầu tỉnh bàn việc xây dựng lực lượng chống quân xâm lược. Trong bài Phụng vãng chư xứ tuyên thiết các đội dân binh,  ông kêu gọi khích lệ mọi người nêu cao tinh thần chiến đấu chống quân xâm lược:

闺 中 婦 女 抱 兒 睡
賊 至 难 安 是 素 𢙇
况 我 男 人 無 掘 起
守 家 報 國 望 誰 哉

Khuê trung phụ nữ bão nhi thuỵ
Tặc chí nan an thị tố hoài
Huống ngã nam nhân vô quật khởi
Thủ gia báo quốc vọng thuỳ tai

(Người đàn bà chốn khuê phòng bế con kia, khi thấy giặc xông tới cũng còn chẳng yên tâm. Huống chi ta là đấng nam nhi, còn chờ đợi ai lại không trỗi dậy giữ nghiệp nhà, đền nợ nước).

Trong xã hội phong kiến đang suy tàn, quan lại không còn là phụ mẫu của dân, vua cũng không là vua sáng, đời sống nhân dân ngày càng cơ cực. Ông chán ngán trước cảnh tình đời đen bạc, có mới nới cũ, quan lại xu nịnh cầu vinh, vua bạc nhược trước bọn thực dân cướp nước:

求 親 陽 識 非 親 日
前 恥 長 江 洗 不 清

Cầu thân dương thức phi thân nhật,
Tiền sỉ Trường Giang tẩy bất thanh.
(Khuất kỷ cầu thân cách)

Cầu thân khi chủ không thân nữa,
Nhục ấy Trường Giang rửa sạch đâu?

見 新 忘 舊 衰 陽 日
君 不 君 兮 臣 不 臣

Kiến tân vong cựu suy dương nhật,
Quân bất quân hề, thần bất thần.
(Kiến tân vọng cựu cách)

Ngày nay thấy mới quên xưa rõ,
Vua chẳng ra vua, tôi chẳng tôi.

Sống trong xã hội có nhiều điều nhiễu nhương, cuộc đời dâu bể, ông vẫn tâm niệm phải giữ vững khí tiết của kẻ trượng phu và tự hào rằng mình trong sạch:

冬 來 何 物 不 凋 零
田 舍 古 松 獨 秀 青
𠕒 打 風 撞 心 自 在
丈 夫 不 愧 世 間 评

Đông lai hà vật bất điêu linh?
Điền xá cổ tùng độc tú thanh
Vũ đả phong chàng tâm tự tại
Trượng phu bất quý thế gian bình.
(Tự tại trượng phu tùng cách)

Mùa đông mọi vật đều xơ xác
Xóm ruộng, thông già cứ tốt xanh
Mưa dội, gió lay, lòng vẫn thế
Trượng phu không thẹn với câu bình.

Quả thật, Khiếu Năng Tĩnh không những không phải hổ thẹn với đời vì ông đã giữ vững phẩm chất tốt đẹp của một nhà nho yêu nước, mà còn rất đáng tự hào trước con mắt khâm phục và sự đánh giá của nhân dân.

Trong cảnh đất nước bị thực dân đô hộ, nhân dân lầm than, quan lại chỉ lo thu vén cho mình, Khiếu Năng Tĩnh tự thấy mình bất lực nên ông không tha thiết gì với con đường làm quan:

江 山 萬 里 他 人 帝
風 化 千 秋 異 種 𡇫
不 料 來 时 生 死 刼
但 知 今 日 冨 豪 鋪
無 才 早 返 田 園 舊
牛 馬 尋 爲 百 姓 辜

Giang sơn vạn lý tha nhân đế
Phong hoá thiên thu dị chủng đồ
Bất liệu lai thi sinh tử kiếp
Đãn tri kim nhật phú hào phô
Vô tài tảo phản điền viên cựu
Ngưu mã tầm vi bách tính cô
(Kiếm Hồ thế thuyết)

Giang sơn vạn dặm quân thù chiếm
Phong hoá ngàn thu giống khác lo
Chẳng liệu về sau điều sống chết
Chỉ hay trước mắt sự sang giàu
Vô tài sớm trở về quê cũ
Luống thấy dân mình kiếp ngựa trâu.

Trong bài Ngôn chí, Khiếu Năng Tĩnh đã nói rõ chí nguyện của ông là muốn đem hết tăng sức lực để dạy học. Theo ông, người ta không học thì không biết đúng sai (Vô học an năng biệt chính tà), muốn diệt trừ kẻ bạo tàn (quân xâm lược) thì phải có tài (Trừ bạo phàm tài khởi đắc da). Ông coi việc dạy học là hành động báo đáp tổ tiên, đền nợ nước. Với cương vị học quan đứng đầu tỉnh và Tế tửu Quốc Tử giám (Hiệu trưởng Trường Đại học đầu tiên của nước ta), ông đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước.

Khi làm Chủ khảo Trường thi Nghệ An, ông đã phát hiện tài năng Phan Bội Châu, hết lòng giúp đỡ để Phan Bộ Châu đỗ thủ khoa. Điều đó đã chứng tỏ Khiếu Năng Tĩnh có con mắt tinh đời và tấm lòng ưu ái đối với những tài năng của đất nước. Với danh hiệu Giải nguyên, Phan Bội Châu có thêm uy tín, danh tiếng rất thuận lợi cho hoạt động cứu nước. Các sĩ tử khoa ấy ai nấy đều vui mừng thừa nhận Phan Bội Châu đỗ Thủ khoa là xứng đáng. Phan Bội Châu đã trở thành một yếu nhân của phong trào Đông Du, một chí sĩ yêu nước được nhân dân vô cùng cảm phục cũng một phần có công đóng góp của quan nghè Khiếu Năng Tĩnh.

Cũng trong khoa thi Hương năm 1900 tại trường thi Nghệ An, có một thí sinh 82 tuổi là Đoàn Tử Quang, người Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đoàn Tử Quang là người rất hiếu học, từng hai lần đỗ Tú tài. Mặc dù tuổi cao, Đoàn Tử Quang vẫn không ngừng học tập, thi cử, mong có điều kiện cống hiến được nhiều cho dân cho nước. Cảm phục tấm gương kiên trì học tập và tài năng thực sự của Đoàn Tử Quang, Chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh đã lấy Đoàn Tử Quang đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ Cử nhân, Đoàn Tử Quang được bổ chức quan, làm  tới chức Huấn đạo. Với việc lấy Đoàn Tử Quang đỗ Cử nhân, Khiếu Năng Tĩnh đã tạo điều kiện cho Đoàn Tử Quang thoả nguyện cống hiến sức lực, tài năng cho nước. Khiếu Năng Tĩnh được các sĩ phu đương thời ca ngợi là người biết trọng nhân tài, không bỏ sót nhân tài và có tấm lòng bao dung nhân ái.

Khi về quê, ông mở trường dạy học tiếp tục sự nghiệp giáo dục mà mình theo đuổi cả đời. Khác với nhiều nhà nho đương thời mở trường dạy học trò để thi tú tài, cử nhân, trường của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh lại nhận dạy con em nhân dân nghèo học chữ. Ông vui vẻ chấp nhận cảnh “sáng cơm tối cháo”, bỏ tiền mua sách bút tặng học trò để thực hiện chí nguyện của mình. Quan tâm giáo dục cho đại đa số người nghèo là một tư tưởng tiến bộ của nhà giáo Khiếu Năng Tĩnh.

Phê phán lối sống cầu vinh, bán nước của một số quan lại đương thời, mong muốn nước nhà có nhiều bậc tài đức, ông làm thơ ca ngợi những gương sáng tiền nhân của quê hương. Trong Cố hương vịnh tập, ông có nhiều bài ca ngợi công thần, những người có nhiều đóng góp cho quê hương, những người hết lòng vì nhân dân…Thọ Tung phúc thần là một bài trong loạt bài này của ông. Bài thơ ca ngợi Tướng quân Bùi Ngọc Oánh, người có nhiều công lao trong kháng chiến chống Minh và xây dựng quê hương:

亦 爲 開 國 一 功 臣
黎 帝 當 時 是 至 珍
初 爲 家 貧 鄉 不 重
後 成 良 將 敕 封 臣
開 荒 濟 急 猶 存 迹
族 廟 鄉 祠 上 沐 恩
屈 指 黃 花 四 百 讚
香 煙 詩 柷 繼 傳 聞

Diệc vi khai quốc nhất công thần,
Lê đế đương thời thị chí trân.
Sơ vị gia bần hương bất trọng,
Hậu thành lương tướng sắc phong thần.
Khai hoang tế cấp do tồn tích,
Tộc miếu hương từ thượng mộc ân
Khuất chỉ hoàng hoa tứ bách tán
Hương yên thi chúc kế truyền văn.

Dịch thơ:

Cũng là khai quốc công thần,
Đương thời Lê đế nhiều lần ban khen.
Lúc đầu nghèo, có ai tôn,
Sau thành tướng giỏi ơn trên phong thần.
Khẩn hoang còn giúp khó bần,
Họ thờ, làng cúng đội ân tỏ lời.
Bốn trăm năm chục năm rồi
Khói nhang cầu vọng nối đời không quên.

(Dương Văn Vượng dịch)

    Khiếu Năng Tĩnh luôn day dứt tự trách mình không đủ tài cứu nước, tâm trạng chán cảnh làm quan, muốn lui về quê, nhưng vẫn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của đất nước. Trong bài Xuân du ông chỉ rõ Thăng Long linh khí” chưa phải đã mất, “Quốc giám thạch bi” còn đọc rõ, mảnh đất dấy vương nghiệp c òn nhiều dấu vết trong lòng người. Ông tiên đoán:

近 百 年 來 當 算 定
清 平 回 日 抵 駸 駸

Cận bách niên lai đương toán định
Thanh bình hồi nhật để xâm xâm.

(Có lẽ trăm năm chừng độ ấy
Thanh bình trở lại mới nghe tăm)

Niềm tin của Khiếu Năng Tĩnh ngày nay đã thành sự thật. Sau gần trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, nhân dân ta đã quét sạch lũ giặc ngoại xâm, giành lại non sông gấm vóc của mình. 

Thơ Khiếu Năng Tĩnh ít khi dùng điển cố nên dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Hầu hết các bài thơ của ông ở thể thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt. Chúng tôi mới chỉ thấy duy nhất bài Nho Lâm thôn dùng thể lục bát. Do ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, việc dùng thể thơ Đường luật trong sáng tác của các nhà nho thời đại Khiếu Năng Tĩnh sống là tình trạng phổ biến. Với số câu, số chữ quy định và sự đòi hỏi chặt chẽ về niêm, luật của thể thơ Đường luật, đòi hỏi các tác giả phải có tài mới tránh được tình trạng gò bó, khuôn sáo. Thơ Khiếu Năng Tĩnh vừa đảm bảo những quy định nghiêm ngặt của thể loại, vừa diễn tả những suy tư, tình cảm của mình một cách tự nhiên, giàu hình ảnh, gây được cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc. Phải là người gần gũi, quan sát tinh tế, yêu thiết tha thiên nhiên đất nước mới có thể viết được những câu thơ giàu hình ảnh đẹp như:

竹 揚 百 手 驱 雲 散
勁 節 还 留 室 外 藩
鳥 问 花 迎 先 後 接
來 年 欲 寄 似 前 年

Trúc dương bách thủ khu vân tán
Kính tiết hoàn lưu thất ngoại phiên
Điểu vấn hoa nghinh tiên hậu tiếp
Lai niên dục ký tự tiền niên
(Hạ từ)

(Trăm tay trúc khua mây tan tác
Khí tiết còn vương dậu phên nhà
Chim hỏi, hoa chào sau trước đón
Chắc rằng năm tới tựa năm qua)

Hoặc như cảnh thôn quê trong bài Mai vịnh:

未 春 白 色 滿 山 頭
布 入 風 中 擊 玉 楼
扇 起 紫 袍 殘 幻 梦
農 家 處 處 速 驱 牛

Vị xuân bạch sắc mãn sơn đầu
Bố nhập phong trung kích ngọc lâu
Phiến khởi tử bào tàn ảo mộng
Nông gia xứ xứ tốc khu ngưu

(Chưa xuân sắc trắng khắp đầu non
Theo gió hương vào tận gác son
Bào tía bỗng nhiên tàn mộng ảo
Lùa trâu vội vã cảnh nông thôn).

       Dường như Khiếu Năng Tĩnh làm thơ chỉ để ghi lại những suy nghĩ, những sự kiện như là nhật ký của mình. Vì vậy, đọc thơ Khiếu Năng Tĩnh, chúng ta hiểu thêm về cuộc đời, về tư tưởng tình cảm của ông, càng kính trọng ông với tư cách là một nhân cách cao đẹp, một người thầy lớn, một danh nhân văn hoá của đất nước.

                                                                Nguồn Newvietart.com

__________________________________________________________

Bài tham luận trong Hội thảo khoa học Tế tửu Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh
tại trung tâm hoạt động VHKH Văn Miếu – Quốc Tử giám, Hà Nội tháng 9 năm 2009.